Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp


Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp

Cư sĩ DiệuÂmDiệuNgộ
Phật lịch 2551 – 2007 
 
Lời Giới Thiệu
Vào khoảng đầu năm 2007, đệ tử của tôi là cư sĩ
DiệuÂmDiệuNgộ có nhờ tôi duyệt dùm tập sách “Ý
Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp” gồm 40 đề tài do cô
biên soạn. Cô nhờ tôi xem lại có chỗ nào thiếu sót hoặc
sai về giáo lý, đồng thời sửa dùm những chỗ chưa thấu
hiểu. Sau khi duyệt qua, tôi rất ngạc nhiên, không ngờ
đệ tử của mình thực hiện được những ý tưởng và nội
dung của tập sách thật là bổ ích vô cùng. Có những bài
tôi phải đọc đến ba lần vì quá thực tế, mang lại lợi ích
cho người tu tập.
 Cô là một Phật Tử tại gia tu tập pháp môn Tịnh
Độ với thời gian chưa dài lắm mà có hiệu quả đáng
khích lệ. Qua nội dung những bài viết của cô, tôi thấy
sự tu tập và khả năng nhận thức về cơ bản giáo lý Phật
Đà mà cô nhận định một cách trung thực và có hiệu
nghiệm qua quá trình tu tập, dù biết rằng Phật pháp cao
siêu, vô lượng vô biên, không thể ai tự hào hiểu biết
hết, trừ những bậc Giác ngộ hoàn toàn. Hiện tại trên
con đường tu tập chúng ta có thể trao đổi những kinh
nghiệm và khuyến tấn cho nhau để cùng hiểu biết.
 Tôi vô cùng hoan hỷ và xin góp phần hồi hướng
cho người đệ tử có nhiệt tâm để hoàn thành tác phẩm
“Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp.” Đồng thời giới
thiệu đến các bậc thiện tri thức, cùng các hành giả niệm
Phật. Nếu đọc qua có những gi chưa đầy đủ, còn thiếu
sót, xin hoan hỷ chỉ dạy thêm, chắc chắn còn nhiều
điều chưa thấu đáo.
Mùa an cư năm Đinh Hợi
 Ngày 12 tháng 7 năm 2007
SA MÔN THÍCH GIÁC HẠNH



­






Lời Mở Đầu
Kính thưa quý bạn! Ba đời mười phương chư
Phật, chư Bồ Tát thị hiện đến thế giới Ta Bà này không
ngừng nghỉ cũng chỉ vì một chữ Tâm của chúng ta.
Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện đến thế giới Ta Bà này
gần ba ngàn năm trước, cũng vì một chữ Tâm của
chúng ta mà Ngài đã phải thuyết pháp hết 49 năm. Sau
khi Phật nhập niết bàn, chư Tăng, Ni tiếp tục thay Phật
để giảng giải một chữ Tâm và các Ngài đã giảng hết
gần ba ngàn năm nay vậy mà chúng ta vẫn chưa chịu
thức tỉnh. 
Chúng tôi nay không biết lấy gì để đền ơn cho ba
đời mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh
Tăng, chỉ biết theo chân quý Ngài tiếp tục giảng giải
một chữ Tâm để cúng dường đến mười phương chư
bạn.
Đây là cuốn sách mà chúng tôi đã dùng hết tâm
huyết và tinh thần để đúc kết tất cả tinh hoa cốt tủy,
những gì mà Phật đã dạy trong suốt 49 năm thuyết
pháp độ sinh. Chúng tôi mong cuốn sách nhỏ này có
thể giúp chư bạn tìm lại được chơn tâm để biết mình là
ai. Xin quý bạn hãy nhín một chút thời gian quý báu để
đọc kỹ cuốn sách này, vì nó sẽ trả lời cho quý bạn biết
hết tất cả. 
­­Con xin cúi đầu đãnh lễ, cảm tạ ân đức của đấng
từ phụ Thích Ca Mâu Ni và ba đời mười phương chư
Phật, chư Bồ Tát đã soi đường cho chúng con đi.
Con xin cúi đầu đãnh lễ, cảm tạ ân đức của Lịch
Đại Tổ sư, chư Đại thánh hiền trong quá khứ cũng như
hiện tại đã dày công hoằng truyền chánh pháp. Nhờ ân
đức cao sâu của quý Ngài mà tam tạng giáo pháp Phật
mới được tồn tại cho đến ngày hôm nay cho chúng con
có đầy đủ kinh sách để mà tu học.
Chúng tôi kính mong chư bạn đồng tu đóng
góp những điều sai sót để cuốn sách được hoàn
thiện hơn trong kỳ tái bản.

Nam Mô A Di Đà Phật
    K í n h g h i
    D i ệuÂmDiệuNgộ
Thỉnh cầu
Dù cho bận rộn đến đâu
Xin người nán lại đọc sâu sách này
Mỗi câu mỗi chữ tỏ bày
Kho tàng diệu pháp Di Đà tự tâm.
Ước mong huynh đệ tình thâm
Phát Bồ Đề nguyện trở về chơn tâm
Thoát vòng sanh tử tối tăm
Vãng sanh Cực Lạc cùng thăng liên đài.
(tức thành Phật)
Thà dốt
Tôi là người không biết làm thơ,
Luật lệ thi ca tôi không rõ
Lo: hiểu rồi chướng ngại hồn thơ.
Thà dốt để dòng tâm lưu xuất.
Hòa tâm hồn vạn vật ung dung
Ôm vũ trụ vào tâm tỉnh thức
Lý, sự dung hòa đạo là tâm
Ái ngại lo chi từ ngữ tạm
Tâm là luật, chơn là hồn thơ!

­Đạo Phật Nghĩa Là Gì?
Đạo Phật không phải là tôn giáo được đặt ra bởi
một đấng thiêng liêng tuyệt đối nào đó để bắt buộc con
người phải tuân theo mệnh lệnh, tôn thờ hay phục tùng.
 Đạo là đạo tâm, Phật là Phật tánh. Đạo Phật dạy
cho ta biết quay về để sống với chơn tâm (Phật tánh) sẵn
có của ta. Đạo Phật là giáo học dạy về chơn tướng của
vũ trụ, nhân sinh, đạo tâm và giải thoát. Chơn tướng
của vũ trụ là dạy cho ta biết vũ trụ được thành tựu hoại
diệt như thế nào. Chơn tướng nhân sinh là dạy cho ta
biết sự biến hóa nào đã tạo ra có Phật, có chúng sanh
hữu tình và vô tình. Đạo tâm là dạy cho ta từ bi, thánh
thiện, đạo đức… Giải thoát là dạy cho ta phương pháp
tu hành để chuyển phàm thành Phật. Tóm lại, đạo Phật
dạy cho ta thành Phật để sống mãi không chết, trẻ mãi 
không già, giàu hoài không nghèo và hạnh phúc an lạc
vĩnh cửu (khi vãng sanh thì ta sẽ có tất cả vĩnh cửu). 
 Nhưng tiếc thay, chúng ta xưa nay không hiểu,
ngược lại còn hiểu lầm cho đạo Phật là mê tín dị đoan,
tiêu cực bỏ quên trách nhiệm… Cũng vì si mê nghi ngờ
mà chúng ta bỏ đi cơ hội làm Phật và chịu mọi đau khổ
trong sáu ngã luân hồi không thể thoát ly. Sáu ngã luân
hồi đó là: trời, người, thần, súc sanh, ngạ quỷ và địa
ngục (luân hồi tức là đầu thai trở lại vô số kiếp).
 Tuy ở đây chúng tôi nguyện dùng hết tâm can để
giải bày nhưng khả năng và giấy mực cũng chỉ có giới
hạn, xin quý bạn hãy đi tìm kinh điển của Phật để học
hỏi thêm. Còn nếu quý bạn bận rộn không có thời gian
để nghiên cứu Phật pháp mà muốn được vãng sanh
ngay trong đời này thì quý bạn chỉ cần tin sâu niệm A
DI ĐÀ Phật, vì câu A DI ĐÀ Phật là kim cang diệu
thiền tối cao của Phật pháp, là chìa khóa mở cửa kho
tàng chơn tâm của bạn. Kim cang: nghĩa là trực chỉ
chơn tâm, thành tựu pháp thân kim cang bất hoại. Diệu
thiền: nghĩa là trực chỉ Phật tánh Di Đà khai tri kiến
Phật, thành tựu lục thông. Thật ra kho tàng thần thông
trí tuệ đó không ở đâu xa, tất cả đều đã có sẵn ở trong
tự tâm, chẳng qua chúng ta bị vô minh che lấp nên
không thấy đó thôi. Chúng ta si mê điên đảo thật là
đáng thương, thà làm kẻ ăn xin bần cùng chịu mọi đau
khổ đời đời kiếp kiếp, chớ không chịu tin lời Phật dạy
trở về chơn tâm để hưởng thụ kho tàng quý báu của
mình. 

Giờ chúng ta tìm hiểu vào phần chi tiết. Trước
khi bước vào phần chi tiết chúng tôi xin nêu ra một câu
hỏi để quý bạn tự trả lời. Tuy câu hỏi này rất là đơn
giản nhưng đây là đầu mối có thể giúp quý bạn có cái
nhìn khác hơn về đạo Phật.
 Câu hỏi: Kính thưa quý bạn! Những giáo sư, bác
học ở trên thế giới này họ đang dạy con người về
những sự chuyển biến của vạn vật muôn loài hay là họ
đang dạy con người về tôn giáo, mê tín dị đoan?
 N ếu quý bạn trả lời rằng họ đang dạy con người
về những sự tướng chuyển biến của xã hội học thì quý
bạn đã hiểu được phần nào về đạo Phật rồi đó. Còn nếu
quý bạn trả lời rằng họ đang dạy con người về tôn giáo
và mê tín dị đoan thì thần kinh của quý bạn đã có vấn
đề rồi đó. Tại sao? Vì những vị giáo sư, bác học đang
dạy con người về những sự biến hóa của vạn vật muôn
loài ở trên trái đất này, họ nào có dạy điều gì liên quan
đến tôn giáo hay là mê tín dị đoan.
 Kính thưa quý bạn! Đạo Phật cũng như vậy đó,
chư Phật đến đây là dạy cho chúng ta hiểu biết về cái
chơn tướng của vũ trụ, nhân sinh, đạo tâm và giải
thoát, quý Ngài nào có dạy điều gì liên quan đến ban
phước hay trừng phạt đâu mà chúng ta vội cho đạo Phật
là mê tín dị đoan?
 Những vị bác học ở trên trái đất này dù có tài
giỏi đến đâu thì cũng chỉ hiểu được một phần sự tướng
giả tạm của thế giới này thôi chớ không hiểu được hết.

Sự tướng giả tạm của thế gian họ còn chưa hiểu thấu thì
nói chi đến chơn tướng của tâm linh. Vì sao thế? Vì họ
cũng là phàm phu si mê điên đảo, họ chỉ hơn chúng ta
ở chỗ là có một chút thông minh và có nghiên cứu nên
mới biết. Nhưng nếu đem cái thông minh và sự hiểu
biết của họ so với chư Phật thì sự hiểu biết của họ
không bằng hạt cát giữa sa mạc.
 Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện đến thế giới Ta
Bà này gần ba ngàn năm trước, tu hành và thuyết pháp
hết 49 năm (Ta Bà là thế giới có đầy rẫy đau khổ và tộc ác).
Trong 49 năm thuyết pháp những gì Ngài nói đều
không ra ngoài tâm của chúng sanh. Không chỉ riêng
Phật Thích Ca mà ba đời mười phương chư Phật, chư
Bồ Tát cũng cùng dạy một lý lẽ. Quý Ngài cùng có một
tâm nguyện hoài bão giống nhau là giúp chúng sanh
giác ngộ lìa mê, chuyển phàm thành Phật giống như
quý Ngài. Quý Ngài xưa nay chưa hề tự đặt ra một môn
phái hay một giáo lý riêng biệt nào để bắt buộc chúng
sanh phải tôn thờ hay phục tùng.
 Trong kinh Phật nói: “Nếu có chúng sanh nào
nói kinh điển là do Phật tự thuyết thì sẽ oan ức cho chư
Phật ba đời”. Đọc đến đây chúng ta không khỏi nghi
ngờ tự hỏi: rõ ràng ba đại tạng kinh là do Phật Thích Ca
thuyết mới có và còn tồn tại cho đến ngày hôm nay,
nhưng tại sao Phật lại nói rằng: “Phật chưa hề thuyết,”
thật là vô lý quá!
 Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ: anh A có một
kho vàng chôn ở trong nhà mà không hề hay biết, cam 
tâm chịu sống đau khổ bần cùng ăn xin khắp nơi. Anh
B thấy anh A si mê tội nghiệp nên tới mách bảo cho
anh A biết rằng anh A có kho vàng được chôn ở trong
nhà, vậy những lời anh B nói với anh A là bịa đặt hay
là anh B chỉ nói chơn tướng sự thật để cho anh A biết
mà thôi?
Chư Phật ba đời mười phương cũng như anh B
vậy đó, quý Ngài đến đây chỉ là muốn nói cho chúng ta
biết tất cả chúng sanh mọi loài hữu tình ở mười phương
thế giới đều có chủng tử Phật tánh để thành Phật A DI
ĐÀ, chẳng qua chúng ta không có đủ căn duyên, phước
lành để tin lời Phật dạy đó thôi.
 Giờ chúng tôi xin phân tích thêm để quý bạn
hiểu rõ hơn tại sao Phật nói là Phật chưa hề thuyết.
Trong 49 năm thuyết pháp, những gì Phật nói đều
không ngoài ba nguyên nhân chính. Một: vì có đệ tử
hỏi, Phật trả lời. Hai: là khi gặp nhân duyên, Phật giải
thích. Ba: là Phật tự thuyết để giúp chúng sanh thành
Phật. Ý nghĩa tự thuyết ở đây không phải là Phật tự đặt
ra để thuyết mà là Phật tự động nói ra cái chơn tướng bí
mật sẵn có trong tâm của chúng sanh, cũng như anh B
tự động tới nói cho anh A biết cái kho vàng mà anh A
đang có.
Những bộ kinh đại thừa mà Phật tự thuyết đó là:
Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A DI
ĐÀ, vì vậy ngay tựa đề của những bộ kinh này đều có
ghi hai chữ “Phật thuyết”. Tức là không có ai hỏi mà
Phật tự động thuyết. Tại sao thế? Vì ý nghĩa đại thừa là
cao siêu thậm thâm vi diệu, chỉ có Phật mới hiểu được
Phật thôi, còn chúng sanh si mê như chúng ta làm sao
biết mà thưa hỏi, nên Phật phải tự động nói ra cái chơn
tướng sự thật để cứu chúng sanh.
 Tuy những bộ kinh đại thừa đều do Phật thuyết
mới có và được tồn tại cho đến ngày hôm nay, nhưng
cũng không phải do Phật tự đặt ra để thuyết. Vì sao
thế? Vì những gì Phật Thích Ca thuyết, ba đời mười
phương chư Phật đều thuyết giống nhau không khác,
quý Ngài thị hiện đến đây chỉ nói lên cái chơn tướng sự
thật đã có sẵn trong tâm chúng ta mà thôi.
 Cuối cùng kinh điển của Phật không có Phật nào
thuyết cả. Chúng tôi biết quý bạn sẽ hỏi: “Nếu không
có Phật nào thuyết vậy tại sao lại gọi là kinh điển của
Phật?”. Kính thưa quý bạn! Hai chữ “của Phật” ở đây
là nói chung tất cả tâm Phật của chúng sanh, không
phải nói của chư Phật. Nói cách khác cho dễ hiểu: là vì
chúng sanh có tâm Phật nên mới có kinh Phật. Kinh
Phật là thuộc về chúng sanh không phải thuộc về chư
Phật, tức là nói vì có chúng sanh nên mới có kinh điển
của Phật, cũng như vì có kho vàng của anh A mà câu
chuyện của anh B mới được thành lập. Nếu anh A biết
rõ mình có kho vàng thì anh B không có chuyện gì để
nói, thậm chí danh từ anh B cũng không có.
 Tóm lại, vì chúng sanh có tâm Phật mà không
biết nên chư Phật mới thị hiện ra đời để dẫn dắt thuyết
pháp. Nếu chúng sanh biết tâm Phật của mình ở đâu thì
chư Phật không cần ra đời, thậm chí danh từ Phật cũng
không có.
 N ếu chúng sanh biết tâm Phật của mình ở đâu thì
danh từ chúng sanh cũng không có. Tại sao? Vì nếu
chúng sanh biết tâm Phật ở đâu thì chúng sanh đã thành
Phật hết rồi, còn ai để mà gọi là chúng sanh. Nếu danh
từ chúng sanh không có thì làm gì có danh từ Phật, vì
vậy mà Phật nói rằng: “Phật chưa hề thuyết”. Tuy chư
Phật chưa hề thuyết nhưng tất cả chư Phật đều thuyết,
không những tất cả chư Phật đều thuyết mà tất cả
chúng sanh đều có thể thuyết. Tại sao? Vì khi thành
Phật chúng ta lại đem cái chơn tướng sự thật này chỉ
dạy cho chúng sanh đời sau, rồi cứ như vậy mà tiếp nối
dạy nhau không cùng tận. Tóm lại, trên sự thì tất cả
kinh điển đều do chư Phật thuyết mới có, nhưng trên lý
thì chư Phật chưa hề thuyết, vì chữ thuyết ở đây là từ
nơi chúng sanh mà có không phải từ nơi chư Phật.
Giờ chúng ta mới hiểu danh từ “kinh điển của
Phật” là từ nơi chúng ta mà có và hai chữ “đạo Phật”
cũng từ nơi chúng ta mà ra, không có gì là thuộc về sở
hữu của chư Phật cả. Nếu hai chữ “đạo Phật” là nói về
đạo tâm và Phật tánh của ta thì vấn đề làm Phật, Tiên,
Người, Thần, Súc sanh, Ngạ quỷ, địa ngục đều tự ta
quyết định. Nếu ta là người có quyền điều khiển vận
mạng của ta thì đâu còn ai có quyền ban phước lành
hay trừng phạt mà chỉ tự ta ban phước và trừng phạt ta
thôi. 
 Chư Phật thương chúng ta vô bờ bến, quý Ngài
không những đến đây chỉ dạy cho chúng ta biết cái
chơn tướng sự thật mà còn chỉ dạy cặn kẽ tường tận
nhiều phương pháp tu hành khác nhau, để giúp cho ta
tùy theo căn cơ, hoàn cảnh, thời thế mà tự chọn cho
mình một môn tu thích hợp. Phật dạy cho chúng ta tám
vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị với tám vạn bốn
ngàn phiền não đau khổ. Ngoài tám vạn bốn ngàn pháp
môn ra, Ngài còn từ bi chỉ dạy cho ta một pháp môn
Tịnh Độ kim cang diệu thiền thẳng tắt dễ tu, dễ chứng
và được vãng sanh ngay trong một đời (vãng sanh đồng
nghĩa với thành Phật).
Ý nghĩa tin Phật:
 Đa số chúng ta vẫn còn hiểu lầm cho rằng ai tin
Phật thì sẽ được Phật cứu, còn ai không tin Phật thì sẽ
không được Phật cứu. Thậm chí, chúng ta còn cho rằng
Phật là một đấng có quyền năng trừng phạt hay ban
phước lành. Thật ra Phật không ban phước lành hay là
trừng phạt ai cả, Ngài chỉ dạy cho chúng ta một con
đường để đi làm Phật mà thôi. Nếu chúng ta tin lời Phật
dạy, tinh tấn tu hành thì Ngài sẽ luôn luôn phóng 
quang trợ lực cho chúng ta. Phật đã làm hết sức của
Ngài rồi còn chịu làm Phật hay không là do ta tự quyết
định.
 Còn ý nghĩa tin Phật sẽ được cứu ở đây là nói:
nếu ta tin lời Phật dạy, buông xả tham, sân, si, lo tu
hành thì sẽ được thành Phật, như vậy là ta tự cứu ta rồi.
Ý nghĩa không tin Phật sẽ bị đọa ở đây, là nói nếu ta
không tin lời Phật dạy, không tin có quả báo luân hồi,
không lo tu hành mà cứ lo tạo tác ác nghiệp thì sẽ bị
đọa, như vậy là tự ta đọa ta rồi. Trong nhà Phật thường
có một câu nói “ai tu nấy chứng ai tội nấy mang”,
cũng như chúng ta ai ăn thì no, ai không ăn thì đói,
không ai có thể ăn thế cho ai hoặc chịu đói dùm cho ai.
Thờ cúng chư Phật:
 Kính thưa quý bạn! Chư Phật không hề bắt buộc
chúng ta phục tùng hay bái lạy. Nhưng chỉ vì mang ơn
và tưởng nhớ chư Phật nên chúng ta mới lập bàn thờ,
đúc tượng để lễ lạy chiêm ngưỡng. Cũng như chúng ta
mang ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ nên mới lập bàn thờ để
lễ lạy và tưởng nhớ. Ý nghĩa thờ cúng là để chiêm
ngưỡng noi gương, không phải để van xin phù hộ.
Chúng ta xưa nay thường dùng tà tri, tà kiến rồi hiểu
lầm cho rằng thờ cúng thì sẽ được phước, làm ăn phát
tài. Cũng vì những sự si mê điên đảo này mà chúng ta
đã tạo nên những cảnh tượng mê tín, cúng tế trời, đất,
quỷ, thần… Chúng ta si mê điên đảo mà không biết,
ngược lại còn hiểu lầm cho đạo Phật là đạo tiêu cực mê
tín dị đoan, thử hỏi tội lỗi này chúng ta gánh có nổi
không?
 
­Ai Là Phật A DI ĐÀ?
 Chúng ta xưa nay tưởng danh hiệu Phật A DI
ĐÀ là danh tên của một vị Phật ở cõi Tây Phương Cực
Lạc, hoàn toàn không liên quan gì đến chúng ta. Giờ 
chúng tôi xin mời quý bạn tìm hiểu vào danh hiệu A DI
ĐÀ Phật để coi có liên quan gì đến chúng ta hay 
không.
Phật: nghĩa là giác. Giác: nghĩa là trí tuệ sáng
suốt sẵn có của tất cả chúng sanh mọi loài ở trong vũ
trụ này. Bất luận bạn thuộc đạo hay tôn giáo nào, bất
luận bạn thuộc chủng tộc nào, bất luận bạn là Phật,
Trời, Người, Thần, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục thì
tất cả chúng ta đều có cùng Phật trí sáng suốt giống
nhau. Không phải chúng ta đạo Phật thì mới có Phật trí
sáng suốt, còn những người thuộc đạo hay tôn giáo
khác thì không có Phật trí sáng suốt.
Tuy loài người ở trên trái đất này có nhiều chủng
tộc và tôn giáo khác nhau, nhưng Phật trí sáng suốt của
chúng ta thì không khác nhau. Tuy chúng ta ai cũng có
Phật trí sáng suốt nhưng không biết dùng, ngược lại
còn xa lánh Phật trí sáng suốt của mình, nên mới bị trôi
lăn trong sáu ngã luân hồi không thể thoát ly.
A DI ĐÀ: là danh tên tánh đức sẵn có của tất cả
chúng sanh mọi loài ở trong vũ trụ này, còn danh tên
mà chúng ta đang có chỉ là giả tạm do người đời đặt ra
để tiện việc phân biệt anh A hay anh B mà thôi. A DI
ĐÀ: là thể tánh giác, chánh, tịnh sẵn có trong tâm của
tất cả chúng sanh. Giác: là trí tuệ sáng suốt. Chánh: là
thấy, nghe, nghĩ, hành động, lời nói đúng. Tịnh: là
thanh tịnh tịch diệt. Tóm lại, danh hiệu A DI ĐÀ chính
là danh hiệu tánh đức sẵn có vĩnh cửu của ta, còn danh 
tên hiện tại chỉ dùng để gọi tạm trong một đời, sau khi
chết mọi thứ đều trở thành cát bụi, thân ta cũng vậy. 
Chúng ta si mê thật là đáng thương xưa nay cứ
ôm cái danh tên giả tạm mà cho là thật, vì tưởng là thật
nên tranh chấp hơn thua hãm hại lẫn nhau không
ngừng, thậm chí vì cái tên giả tạm này mà rơi vào tù
tội, khi chết còn bị đọa vào ba đường ác. Còn A DI ĐÀ
là Phật tánh sáng suốt sẵn có của mình mà không hề
hay biết, vậy thử hỏi có đáng thương không?
Tuy chúng ta ai cũng có sẵn Phật tánh A DI ĐÀ,
nhưng chưa phải là Phật A DI ĐÀ. Tại sao? Vì chúng
ta chưa chịu trở về để làm Phật A DI ĐÀ. Muốn làm
Phật A DI ĐÀ thì chúng ta phải tu niệm tự tánh A DI
ĐÀ của mình từ bây giờ cho tới phút lâm chung thì sẽ
được vãng sanh thành Phật (vãng sanh đồng nghĩa với thành
Phật).
Tóm lại, Phật A DI ĐÀ là danh hiệu của đấng từ
phụ A DI ĐÀ đang ngự ở cõi Cực Lạc. Phật A DI ĐÀ
cũng là danh hiệu tánh đức của mười phương chư Phật.
Phật A DI ĐÀ cũng là danh hiệu tánh đức của tất cả
chúng sanh mọi loài ở mười phương thế giới (tức bao
gồm luôn ta).
Qua sự phân tích ở trên cho thấy chúng ta cũng
có sẵn Phật tánh A DI ĐÀ, chẳng qua ta không chịu trở
về để làm Phật A DI ĐÀ đó thôi. Xin quý bạn hãy mau
thức tỉnh, vì không có gì đáng thương bằng tự mình
ruồng bỏ trí tuệ sáng suốt của mình.
21


­Phật A DI ĐÀ Là Ai?
 Kính thưa quý bạn! Chúng ta đang tu pháp môn
Tịnh Độ để sanh về Cõi Cực Lạc của Phật A DI ĐÀ thì
cần phải hiểu rõ Phật A DI ĐÀ là ai, để ta không còn
nghi ngờ thoái chuyển. Có rất nhiều người trong chúng
ta vẫn còn mập mờ không hiểu Phật A DI ĐÀ là ai và
cõi Cực Lạc đang ở đâu. Chúng ta nghi ngờ là vì chưa
hiểu được chơn tướng của sự thật.
 Giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu tóm lược vào
những đoạn kinh quan trọng trong lúc Phật Thích Ca
giới thiệu và tán thán công đức hạnh nguyện độ tha của
Phật A DI ĐÀ ở trong pháp hội “Kinh Vô Lượng
Thọ”. 
 “Có một thời, Phật (tức là Phật Thích Ca) thuyết
pháp ở thành Vương Xá Lợi trong núi Kỳ Xà Quật,
trong pháp hội lúc đó có mười hai ngàn đại Bồ Tát và
đại Thánh đều đã có thần thông trí tuệ như là: ngài
Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên,
Ca Diếp, A Nan… Những vị đại Bồ Tát làm thượng
thủ như là: ngài Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát,
Di Lặc Bồ Tát và hết thượng chư Bồ Tát trong quá khứ
đều đến dự trong pháp hội này. Ngoài 12 ngàn đại Bồ
Tát và đại Thánh ra, còn có vô lượng Bồ Tát, Tứ chúng
đệ tử Phật và chư Thiên cũng đều tới trong đại hội để
nghe Phật thuyết pháp. Lúc đó, oai quang sắc tướng 
của Phật tự nhiên rạng rỡ hào quang sáng ngời. Ngài A
Nan trông thấy dung nhan của Phật hôm đó đẹp đẽ lạ
thường, chưa từng thấy qua, nên nghĩ thầm: “chắc Phật
đang giao du được với mười phương chư Phật hay là
Phật có pháp vi diệu muốn thuyết”. Vì vậy Ngài vội
đứng dậy đi tới trước Phật cúi đầu đãnh lễ, thỉnh xin
Phật nói pháp. Phật khen Ngài A Nan thỉnh hỏi rất hay,
vì câu hỏi của Ngài A Nan hôm nay sẽ cứu được vô
lượng chúng sanh hữu tình trong đời tương lai.
 Sau đó, Phật bảo Ngài A Nan cùng chư Bồ Tát,
Thánh chúng ở trong pháp hội hãy nghe kỹ những lời
Phật sắp nói để sau này truyền lại cho tất cả chúng sanh
hữu tình trong mười phương thế giới.
 Phật nói: “Trong vô lượng kiếp quá khứ không
thể tính đếm, có một vị Phật xuất thế hiệu là Thế Gian
Tự Tại Vương Như Lai, nói kinh thuyết pháp cho chư
Thiên và người đời nghe. Lúc đó, có một vị Quốc
Vương tên là Nhiêu Vương sau khi nghe Phật thuyết
pháp thì liền giác ngộ, hoan hỷ buông xả ngai vàng,
xuất gia tu Bồ Tát hạnh và lấy hiệu là Pháp Tạng Tỳ
kheo. Ngài Pháp Tạng có lòng từ bi, trí tuệ và đạo hạnh
rất cao không ai sánh bằng, vì muốn cứu hết chúng
sanh hữu tình trong mười phương thế giới nên Ngài
phát đại nguyện muốn xây một cõi Phật Tịnh Thổ Thù
Thắng cao siêu vượt hơn mười phương cõi Phật, vì vậy
Ngài đến thỉnh xin Phật Tự Tại Vương giảng nói cho
Ngài nghe tường tận về hoàn cảnh thanh tịnh của mười
phương cõi Phật, để Ngài tự lựa chọn những điều thanh
tịnh cao siêu nhất hầu trang nghiêm cho cõi Tịnh Thổ
của Ngài. Sau khi Phật Tự Tại Vương nghe Ngài Pháp
Tạng thỉnh xin xong thì vô cùng hoan hỷ nên liền diễn
nói và thị hiện cho Ngài Pháp Tạng thấy tường tận
hoàn cảnh thanh tịnh của 210 ức cõi Phật. Thời thuyết
pháp đó, Phật Tự Tại Vương đã giảng nói hết một ngàn
ức năm. Sau một ngàn ức năm tìm hiểu, Ngài Pháp
Tạng lại dùng hết năm kiếp tu tập để thành tựu. Sau khi
thành tựu, Ngài Pháp Tạng đến thưa với Phật Tự Tại
Vương rằng Ngài đã thành tựu xong hạnh nguyện của
Ngài. Phật khen và khuyên Ngài Pháp Tạng hãy tuyên
dương đại nguyện cho đại chúng ở khắp mười phương
nghe để đại chúng hoan hỷ mà phát nguyện sanh về cõi
nước của Ngài. Sau đó, Ngài Pháp Tạng quỳ trước mặt
Phật Tự Tại Vương mà phát ra 48 đại nguyện (xin quý
bạn hãy tìm Kinh Vô Lượng Thọ để tìm hiểu 48 đại nguyện của
Ngài vì 48 đại nguyện rất dài không thể nêu ra ở đây).
 Sau khi Ngài Pháp Tạng phát ra 48 đại nguyện
xong thì trời đất chấn động, mưa hoa từ trên trời rơi
xuống phủ lên thân Ngài và nhạc trời trỗi lên đồng
thanh tán thán rằng: “Ngài Pháp Tạng nhất định sẽ
thành Phật!” (Hết phần tóm lược tu nhân của Ngài Pháp
Tạng).
 Giờ chúng ta tìm hiểu vào đoạn kinh lúc Phật
Thích Ca nói về sự thành tựu của Ngài Pháp Tạng như
thế nào (tức nói về sự thành tựu của Phật A DI ĐÀ).
 Sau khi Ngài A Nan và đại chúng nghe Phật giới
thiệu và tán thán về đức hạnh tu hành độ tha của Ngài 
Pháp Tạng xong thì Ngài A Nan liền thưa hỏi Phật
rằng: “Ngài Pháp Tạng là Phật trong quá khứ, là Phật ở
vị lai hay là Phật đang ở thế giới khác?”
Chánh kinh: 
Phật bảo rằng: “Đức Như Lai ấy (tức là nói Phật
A DI ĐÀ) không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, vô sanh
vô diệt, cũng chẳng phải quá khứ, hiện tại hay vị lai,
chỉ vì đáp tạ cái nguyện độ sanh nên Ngài hiện ở
Tây Phương cách Diêm phù Đề trăm ngàn câu ni
chi na do tha cõi Phật (tức là cách cõi Ta Bà của chúng ta
là mười vạn ức Phật độ) có một thế giới tên là Cực Lạc.
Pháp Tạng thành Phật hiệu là A DI ĐÀ. Từ khi
Ngài thành Phật đến nay đã là mười kiếp. Nay Ngài
đang thuyết pháp có vô lượng Bồ Tát và Thanh Văn
chúng đang cung kính vây quanh”. (Chữ kiếp ở đây là
đại đại kiếp, tức là vô lượng kiếp không thể tính đếm. Chữ kiếp
có nhiều ý nghĩa dài ngắn biến hóa, xin quý bạn không nên chấp chặt vào từ ngữ. Đoạn kinh này rất là quan trọng, nếu quý bạn tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy mỗi chữ đều có sự biến hóa vô lượng không thể nghĩ bàn).
 Sau khi Phật Thích Ca tán thán công đức, hạnh
nguyện độ tha của Phật A DI ĐÀ và diễn tả cảnh đẹp
bảy báu trang nghiêm thanh tịnh của cõi Cực Lạc xong
thì Phật khuyên Ngài A Nan cùng hàng đệ tử và tất cả
đại Bồ Tát đang có mặt trong pháp hội, hãy dẫn dắt
chúng sanh hữu tình trong đời tương lai tu hành niệm
Phật để sanh về cõi Cực Lạc của Phật A DI ĐÀ. Sau
khi khuyên dạy đại chúng xong Phật liền dùng thần 
thông thị hiện cảnh Tây Phương Cực Lạc cho đại
chúng thấy để giúp đại chúng có thêm lòng tin với Phật
A DI ĐÀ. Ngay lúc đó, Phật A DI ĐÀ cũng hiện thân
đến nơi để làm chứng tín cho đại chúng và đồng thời
cũng làm chứng cho những lời của Phật Thích Ca
thuyết là vạn lần chân thật. Hai Ngài làm như vậy là để
giúp đại chúng lúc đó và tương lai có thêm lòng tin
kiên định với Phật A Di Đà. Sau khi Phật Thích Ca
thuyết pháp xong thì trên không trung liền có mưa hoa
rơi xuống, âm nhạc trỗi lên, mười phương chư Phật,
chư Bồ Tát và Thánh chúng đồng thanh tán thán nói
rằng: “Phật Thích Ca là Phật có tài đức và lòng từ bi vô
lượng, vì ở trong thế giới Ta Bà chúng sanh tội ác cang
cường, si mê điên đảo mà có thể thuyết được pháp vi
diệu khó tin của Như Lai thì thật là không dễ.” (Vì pháp
môn Tịnh Độ chỉ có Phật mới hiểu được Phật thôi, còn chúng
sanh si mê điên đảo nghiệp chướng sâu dày như chúng ta không dễ gì hiểu được, nhưng vì muốn cứu hết chúng sanh nên Phật Thích Ca mới nói ra). Sau khi nghe Phật thuyết Kinh Vô Lượng Thọ xong thì có vô lượng chư Bồ Tát Thánh chúng ở mười phương đồng phát nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc của Phật A DI ĐÀ.
 Kính thưa quý bạn! Nếu chúng ta dùng con mắt
phàm phu để tìm hiểu kinh điển của Phật thì sẽ nghĩ
rằng: Ngài Pháp Tạng lúc tu nhân chỉ là một vị quốc
vương (tức người thường), sau khi nghe Phật Tự Tại
Vương thuyết pháp thì được giác ngộ, buông xả ngai
vàng, xuất gia tu Bồ Tát hạnh, lấy hiệu là Pháp Tạng, 
phát ra 48 đại nguyện, thành tựu Phật quả và xây cõi
Cực Lạc lấy hiệu là Phật A DI ĐÀ.
 C ũng như chúng ta tưởng Phật Thích Ca gần ba
ngàn năm trước chỉ là một vị hoàng tử Tất Đạt Đa (tức
người thường), sau khi đi du ngoạn ngoài bốn cửa thành
Ngài vô tình thấy được cảnh khổ, bệnh, già, chết mà
được giác ngộ. Sau đó Ngài từ bỏ ngai vàng, cha mẹ và
vợ con để xuất gia tầm sư học đạo rồi trải qua sáu năm
tu hành khổ hạnh, cuối cùng Ngài ngồi thiền định ở
dưới cội Bồ Đề mà đắc quả thành Phật và thuyết pháp
độ sanh hết 49 năm.
 Chúng ta là phàm phu nên chỉ thấy như vậy, trên
thực tế quý Ngài đều đã thành Phật trong vô lượng kiếp
lâu xa rồi, không phải chỉ mới thành Phật đây. Chắc có
lẽ quý bạn sẽ hỏi: vậy tại sao quý Ngài không thị hiện
đến đây bằng thân kim Phật, có đầy đủ thần thông biến
hóa, hào quang rực rỡ, mà quý Ngài lại thị hiện đến đây
bằng thân người có sanh, lão, bệnh, chết giống như
chúng ta? 
Kính thưa quý bạn! Vì quý Ngài thấy tất cả
chúng sanh đều có chủng tử Phật tánh Di Đà, đều có
khả năng thành Phật giống như quý Ngài. Nếu quý
Ngài thị hiện đến đây bằng thân kim Phật thì chúng ta
sẽ nghĩ rằng: chỉ có chư Phật mới có đủ trí tuệ để tu
thành Phật, còn chúng ta làm sao có trí tuệ để tu thành
Phật giống như quý Ngài, rồi từ chỗ nghi ngờ đó mà
chúng ta không chịu buông xả tu hành. Nếu chúng ta
không chịu buông xả tu hành thì Phật làm sao cứu được 
chúng ta? Vì vậy mà quý Ngài phải thị hiện bằng thân
người cũng có cha mẹ, vợ con, giác ngộ, phát nguyện,
tu hành, độ tha, thành tựu Phật quả, để giúp chúng ta có
tự tin tu hành thành Phật. Các Ngài không phải chỉ thị
hiện thân người để cứu chúng ta thôi đâu mà các Ngài
còn thị hiện thân súc sanh để độ súc sanh, hiện thân 
ngạ quỷ để độ ngạ quỷ, hiện thân địa ngục để độ địa
ngục.
 Giờ chúng ta trở lại tìm hiểu những phần quan
trọng trong tiến trình tu nhân và thành Phật của Ngài
Pháp Tạng (tức Phật A DI ĐÀ) để xem Ngài lúc đó chỉ là
người thường hay là cổ Phật tái lai. Vì sự tìm hiểu này
rất là quan trọng, nếu chúng ta chưa tìm hiểu rõ ràng
mà vội đi nghi ngờ phỉ báng thì chỉ hại mình bị đọa địa
ngục mà thôi.
1. Nếu Ngài Pháp Tạng lúc đó chỉ là người thường
mới được giác ngộ tu Bồ Tát hạnh thì Ngài làm sao có
đủ trí tuệ, đạo hạnh để thỉnh Phật Tự Tại Vương diễn
nói cho Ngài nghe hết hoàn cảnh thanh tịnh của mười
phương cõi Phật, để Ngài lựa chọn những điều thanh
tịnh cao siêu nhất thành tựu cho cõi Phật của Ngài?

2. Nếu Ngài là người thường thì Ngài làm sao có đủ
đạo hạnh và can đảm quỳ ở trước mặt Phật Tự Tại
Vương mà tuyên thệ rằng: nếu Ngài không xây dựng
được cõi Tịnh Thổ (tức Cực Lạc) vượt trội hơn mười
phương cõi Phật thì Ngài thề không thành Phật? (Ngài
muốn xây thù thắng hơn để cứu chúng sanh, không phải là để hơn thua, xin quý bạn chớ có hiểu lầm).

3. Nếu Ngài là người thường thì Phật Tự Tại
Vương cần gì phải dùng hết một ngàn ức năm để diễn
nói và thị hiện cảnh 210 ức cõi Phật cho Ngài suy nghĩ
lựa chọn? (thật ra hai Ngài chỉ đóng kịch để hoàn thành câu chuyện độ sanh mà thôi).

4. Nếu Ngài Pháp Tạng là người thường thì làm sao
có đủ trí tuệ đạo hạnh để phát ra 48 đại nguyện, trong
khi 48 đại nguyện đó là chơn tướng diệu đức sẵn có
trong diệu tâm của mười phương chư Phật và chúng
sanh?

5. Nếu Ngài là người thường vậy tại sao sau khi
Ngài phát ra 48 đại nguyện thì trời đất liền chấn động,
mưa hoa rơi xuống, âm nhạc trỗi lên và mười phương
chư Phật, chư Bồ Tát, Thánh chúng đều đồng thanh tán
thán rằng: “Ngài Pháp Tạng nhất định sẽ thành Phật!”?
(thật ra mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, thánh chúng lúc đó cũng chỉ là đóng kịch để giúp chúng sanh có vững lòng tin thôi).

6. Nếu Ngài Pháp Tạng chỉ mới thành Phật A DI
ĐÀ trong mười kiếp thì tại sao ba đời mười phương
chư Phật, chư Bồ Tát đều tán thán và tôn danh Ngài là
Phật Trung Chi Vương? (chữ mười kiếp cũng chỉ là phương tiện để giúp chúng sanh hiểu được khoảng cách của thời gian thôi. Trên thực tế cõi Cực Lạc đã thành tựu trong vô lượng kiếp rồi).

7. Nếu Ngài chỉ mới thành Phật A DI ĐÀ trong
mười kiếp thì Ngài làm sao có đủ đạo hạnh để cho hai
vị đại Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí ở hai bên
phải - trái của Ngài đi tiếp dẫn chúng sanh ở mười 
phương thế giới về Tây Phương Cực Lạc? (Bồ Tát Quán
Thế Âm và Đại Thế Chí là hai vị cổ Phật đã thành Phật trong vô lượng kiếp lâu xa rồi).

8. Nếu Ngài là Phật A DI ĐÀ mới thành thì tại sao
ba đời mười phương chư Phật, chư Bồ Tát đều khuyên
dạy chúng sanh nên phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc
của Phật A DI ĐÀ?
9. Nếu Ngài là Phật mới thành thì Ngài làm sao có
đủ đạo hạnh lấy danh hiệu A DI ĐÀ để đại diện cho cõi
nước của Ngài? Quý bạn nên biết rằng danh hiệu A DI
ĐÀ chỉ có Phật Tổ Tỳ Lô Giá Na mới có đủ đạo hạnh
để đại diện mà thôi. Vì sao thế? Vì đây là danh hiệu
tánh đức A DI ĐÀ của mười phương chư Phật và mười
phương thế giới chúng sanh (Phật A DI ĐÀ tức là Phật Tổ
Tỳ Lô Giá Na đấy).

Nếu nói đến cảnh giới của chư Phật thì phàm phu
si mê như chúng ta không cách chi nghĩ đến hay bàn
luận được, nhưng nhờ có ba đại tạng kinh của Phật mà
chúng ta mới hiểu được phần nào cảnh giới của chư
Phật. Dù chúng ta có đủ trí tuệ hiểu thông được ba đại
tạng kinh mà Phật dạy ở thế giới Ta Bà này thì cũng chỉ
mới hiểu được có một chút - như hạt cát giữa sa mạc
thôi. Vì sao thế? Vì ba đại tạng kinh của Phật để lại
trên thế gian này so với đại tạng kinh ở trên cõi Phật thì
chỉ là giọt nước ở trong biển, chỉ khi nào thành Phật thì
chúng ta mới hiểu được hết cảnh giới của chư Phật (Đại
tạng kinh trên cõi Phật ở đây là nói với chúng ta không phải nói với chư Phật, vì chư Phật không có kinh điển chi cả, xin quý bạn chớ hiểu lầm mà sanh ra tranh chấp từ ngữ).
 N ếu chúng ta chịu để ý nghiên cứu kỹ kinh Phật
thì sẽ thấy Ngài Pháp Tạng chính là Phật Tổ Tỳ Lô Giá
Na thị hiện tái lai. Ngài là Phật Tổ cả hai cõi Hoa Tạng
thế giới và Cực Lạc thế giới. Danh hiệu Tỳ Lô Giá Na
cũng chỉ là danh hiệu để cho chúng sanh dễ hiểu, dễ
phân biệt thôi. Trên thực tế Ngài đã có vô lượng, vô
biên danh hiệu khác nhau không thể tính đếm. Không
phải chỉ có Ngài mới có vô lượng danh hiệu khác nhau
mà tất cả chư Phật, chư Bồ Tát ba đời mười phương
cũng đều có vô lượng danh hiệu khác nhau. Vì sao thế?
Vì mỗi một nơi quý Ngài thị hiện làm Phật hay hóa
thân cứu độ chúng sanh thì quý Ngài đều lấy danh hiệu
khác nhau để giúp chúng sanh dễ phân biệt. Đó là nói
trên sự, còn trên lý thì quý Ngài không có một danh
hiệu nào cả, thậm chí danh hiệu A DI ĐÀ cũng không
có. Tại sao? Vì danh hiệu của chư Phật là bất lập ngôn
từ.
 Giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu tại sao Phật Tổ
Tỳ Lô Giá Na lại phải thị hiện làm Ngài Pháp Tạng
phát ra 48 đại nguyện, thành lập cõi Tây Phương Cực
Lạc và lấy hiệu là Phật A DI ĐÀ.
 Vì Phật Tổ thấy chúng sanh ở mười phương thế
giới si mê, nghiệp chướng sâu dày khó tự tu để thoát
khỏi luân hồi sanh tử, nên Ngài mới dùng hết thần lực
của Ngài tu trong vô lượng kiếp để xây dựng một cõi
Cực Lạc cao siêu thù thắng, hầu giúp chúng sanh đới 
nghiệp vãng sanh. Nhưng nếu Ngài âm thầm xây dựng
cõi Cực Lạc thì chúng sanh làm sao biết ở Hoa Tạng
thế giới có một cõi Cực Lạc cao siêu thù thắng giúp
chúng sanh đới nghiệp vãng sanh (Đới nghiệp nghĩa là đem theo nghiệp tội của mình để sanh về cực lạc), làm sao biết có Phật A DI ĐÀ luôn luôn phóng quang trợ lực, tiếp dẫn và dạy dỗ chúng sanh tu thành Phật. Nếu chúng sanh
không biết thì Ngài làm sao cứu được chúng sanh, làm
sao thỏa được cái nguyện độ tha của Ngài? Vì vậy mà
Ngài phải thị hiện làm Ngài Pháp Tạng để tạo nên câu
chuyện độ tha của Phật A DI ĐÀ. Nhờ có câu chuyện
độ tha của Phật A DI ĐÀ mà ba đời mười phương chư
Phật, chư Bồ Tát mới giới thiệu để cứu chúng sanh mọi
loài.
 T ại sao Phật Tổ không lấy danh hiệu khác mà
phải lấy danh hiệu A DI ĐÀ và còn khuyên chúng sanh
hãy niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ được Ngài đến nơi
tiếp dẫn sanh về Cực Lạc? (Khi viết đến đoạn này tôi vô
cùng xúc động không thể viết tiếp. Tại sao? Vì mỗi khi cầm bút lên thì nước mắt của tôi cứ tuôn chảy mãi, dù tôi có bị tan xương nát thịt đến vô lượng kiếp cũng không sao đền được ân đức cao sâu của Phật A DI ĐÀ, chư Phật và chư Bồ Tát).
 Kính thưa quý bạn! Vì tất cả chúng ta mà Phật
Tổ mới xây dựng cõi Cực Lạc và lấy hiệu là Phật A DI
ĐÀ. Tại sao? Vì Phật Tổ thấy tất cả chúng sanh đều có
sẵn Phật tánh A DI ĐÀ, chẳng qua chúng sanh si mê
điên đảo chạy theo dục vọng, bỏ quên Phật tánh không
biết quay về. Vì muốn cứu hết thảy chúng sanh nên

Ngài lấy tánh đức A DI ĐÀ sẵn có của chúng sanh để
đại diện cho Ngài, rồi sau đó khuyên dụ chúng sanh
hãy niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ được Ngài đến nơi
tiếp dẫn đưa về Cực Lạc để tu thành Phật, đây là khổ
tâm và dụng ý của Ngài.
 T ại sao Phật không nói cho chúng ta biết rõ sự
thật mà Ngài phải dùng phương tiện để cứu chúng ta?
Vì Ngài biết dù có nói chúng sanh cũng không có đủ trí
tuệ để hiểu suốt. Tại sao? Vì Phật tánh A DI ĐÀ của
chúng sanh không có hình tướng, nếu không có hình
tướng thì Phật làm sao có thể giải bày, nên chỉ còn cách
là lấy danh hiệu tánh đức A DI ĐÀ sẵn có của chúng
sanh để đại diện cho Ngài. Vì Ngài biết rõ chỉ cần
chúng sanh tin sâu tu niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ
khai mở được Phật tánh A DI ĐÀ, khi Phật tánh A DI
ĐÀ được khai mở thì tự chúng sanh sẽ hiểu ra danh
hiệu A DI ĐÀ chính là danh hiệu tánh đức sẵn có của
chúng sanh. Ngài chỉ mong chúng sanh chịu niệm Phật
tánh A DI ĐÀ thì Ngài mới truyền được thần lực của
Ngài vào thân tâm chúng sanh. Còn nếu chúng sanh
không chịu niệm Phật tánh A Di Đà, không chịu tiếp
nhận thần lực ánh sáng của Ngài thì dù Ngài muốn cứu
cũng không nổi. Cũng như Ngài đã đem thuyền chờ sẵn
ở ngoài bến, nhưng chúng sanh không chịu cất bước để
leo lên thuyền thì Ngài làm sao cứu được chúng sanh
thoát khỏi biển lửa luân hồi sanh tử.
Còn 48 đại nguyện mà Phật phát thệ cũng không
phải tự Ngài đặt ra mà tất cả những gì Ngài nói trong 
48 đại nguyện đó đều có sẵn trong tự tánh A DI ĐÀ
chúng ta. Chúng ta chỉ cần tin sâu tu niệm tự tánh A DI
ĐÀ, khi được vãng sanh thì sẽ có tất cả thần thông trí
tuệ như trong 48 đại nguyện. Vì vậy mà Phật tuyên thệ
rằng: “Nếu chúng sanh vãng sanh về cõi nước của ta
mà không có đủ những gì như ta đã nói ở trong 48
đại nguyện thì ta thề không làm Phật”. Thật ra không
phải đợi đến khi vãng sanh chúng ta mới có thần thông
trí tuệ mà ngay giây phút hiện tại cũng có thể khôi phục
được phần nào tùy theo sự tu hành sâu, cạn của ta. Nếu
chúng ta tu niệm ít thì sẽ khôi phục được thần thông trí
tuệ và hạnh phúc an lạc ít, nếu chúng ta tu niệm nhiều
thì sẽ khôi phục được thần thông trí tuệ và hạnh phúc
an lạc nhiều. Tóm lại, tất cả đều do ta quyết định mà
thôi.
Kính thưa quý bạn! Phật A DI ĐÀ phát ra 48 đại
nguyện là đã phơi bày tất cả diệu đức sẵn có ở trong
tâm ta, vậy mà xưa nay ta có mắt như mù không hay
biết gì cả, ngược lại còn đi phỉ báng nghi ngờ. Giờ thức
tỉnh mới thấy 48 đại nguyện của Phật A Di Đà chính là
cảnh giới nhiệm màu sẵn có trong diệu tánh A DI ĐÀ
chúng ta và Tây Phương Cực Lạc cũng vì chúng ta mà
Phật Tổ mới xây dựng.
Nếu chúng ta chịu quán xét tìm hiểu tiến trình độ
tha của chư Phật, chư Bồ Tát từ xưa đến nay thì sẽ thấy
Phật Thích Ca thị hiện đến đây gần ba ngàn năm trước
đóng vai làm mẹ nhảy vào biển lửa để dẫn dắt chúng ta.
Còn Phật A DI ĐÀ ở Tây Phương Cực Lạc đóng vai 
làm cha ngày đêm mỏi mắt mong chờ và tiếp dẫn các
con đưa về Cực Lạc để tu thành Phật. Ngoài ra cha còn
phóng quang tới mười phương thế giới Ta Bà mỗi giây
mỗi phút để bảo vệ, trợ lực cho các con không bị vấp
ngã bởi cạm bẫy của Ma Vương.
Ngoài mẹ là Phật Thích Ca và cha là Phật A DI
ĐÀ, chúng ta còn có hai đại sư tỷ có lòng từ bi vô tận
đó là: Đại Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Hai
đại sư tỷ có lòng từ bi vô tận này lúc nào cũng ở bên
cạnh để trợ lực và dạy dỗ tiếp dẫn chúng ta. Ngoài cha
mẹ và hai đại sư tỷ ra, chúng ta còn có vô lượng cha mẹ
và vô lượng đại sư huynh, sư tỷ ở mười phương thế
giới mỗi giây mỗi phút cũng đang trông chờ và phóng
quang trợ lực để bảo vệ, vậy chúng ta còn tham đắm ở
trong biển lửa luân hồi này để làm gì mà không mau đi
về Cực Lạc để đoàn tựu với gia đình? (Xin quý bạn hãy
suy nghĩ lại).
Xin quý bạn hãy tìm bộ kinh “Vô Lượng Thọ
Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh” do Ngài Hạ Liên
Cư hội tập và Ngài cư sĩ Hoàng Niệm Tổ chú giải để
tìm hiểu thêm về Phật A DI ĐÀ, cõi Cực Lạc và tìm
hiểu về chơn tướng nhiệm màu sẵn có ở trong tự tánh
Di Đà của chúng ta. Đây là bộ kinh được hội tập và chú
giải hoàn chỉnh nhất từ khi Phật nhập Niết Bàn. Bộ
kinh này đang được Ngài pháp sư Tịnh Không cùng
các chư Tăng, Ni trong và ngoài nước thuyết giảng
khắp nơi. Xin quý bạn đừng bỏ qua cơ hội học bộ kinh
này, vì chỉ có bộ kinh này mới giúp chúng ta vãng sanh 
ngay trong một đời và bộ kinh này cũng là thể tánh
chơn tâm của mỗi chúng ta.
Chúng ta hãy phát tâm ấn tống cuốn kinh “Vô
Lượng Thọ” này cúng dường khắp nơi để giúp chư
Tăng, Ni và Phật tử có thêm tài liệu quý báu nghiên
cứu tu hành, vì đây là báu vật vô giá của thế gian.
Trước kia, khi tôi nghe Ngài pháp sư Tịnh Không giới
thiệu: “Bộ kinh Vô Lượng Thọ do Ngài Hạ Liên Cư 
hội tập và Ngài cư sĩ Hoàng Niệm Tổ chú giải là bộ
kinh hoàn chỉnh nhất từ khi Phật nhập Niết Bàn”, trong
tâm tôi vô cùng mong ước có được cuốn kinh này,
nhưng vì bận rộn nhiều việc Phật sự nên chưa có thời
gian đi tìm, phần tôi thắc mắc không biết bộ kinh này
có được dịch sang tiếng Việt hay chưa. Không ngờ
những điều mơ ước trong tâm tôi được chư Phật cảm
ứng, tự nhiên có một người bạn đạo gọi phone tặng cho
tôi một cuốn kinh Vô Lượng Thọ chú giải của Ngài
Hoàng Niệm Tổ. Tôi vô cùng mừng rỡ, bỏ hết công
việc chạy đến để thỉnh ngay. Sau khi thỉnh về tôi tập
trung nghiên cứu, đọc tới đâu tôi xúc động tới đó vì
mỗi chữ trong cuốn kinh này đều tỏa ra hào quang biến
hóa vô lượng (Ngoài Phật thị hiện ra không ai có thể hội tập chú giải được hay như vậy, thật đúng như lời của chư cổ đức tán thán). Cũng nhờ có Ngài Như Hòa ở Bửu Quang Tự từ bi khổ công dịch sang tiếng Việt, nếu không chúng ta không biết đến bao giờ mới có được bộ kinh quý báu này để tu học (bộ kinh này được Ngài Như Hòa dịch sang tiếng Việt năm 2002). 
Chúng ta may mắn có bộ kinh quý báu này trong
tay thì hãy phát tâm từ bi ấn tống để lưu thông khắp nơi
trong và ngoài nước để mọi người đều được thấm
nhuần trong mưa pháp và cùng được vãng sanh. Bộ
kinh này đã có vài vị đọc và thâu vào băng đĩa đang ấn
tống khắp nơi hoặc quý bạn có thể vào website
H Uwww.dieuamdieungo.comU H thâu ra đĩa để ấn tống khắp
nơi (cuốn kinh này dày khoảng 719 trang, nếu in ở Việt Nam thì
hơn 1000 trang).

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Công Đức và Phước Đức

Trích trong Thư viện Hoa Sen
Tác giả : Ban Biên Tập
Tôi thường hay đến chùa và thỉnh thoảng có nghe vài người bạn đạo nói rằng: "Nếu kiếp này chỉ lo tu phước mà không lo tu huệ, thì sự tu phước của kiếp này sẽ là tai họa cho kiếp thứ ba.  Như vậy ý này là thế nào? Và kiếp này có nên tu phước không hay là để tránh kiếp thứ ba khỏi bị tai họa thì phải ngưng tu phước mà chỉ tu huệ thôi? Và tu huệ là tu cái gì? Kính mong quý vị chỉ dẫn giùm cho chúng tôi hiểu
Trước khi trả lời thư của vị thính giả, chúng tôi mời quý vị nghe lại bốn câu kệ trong kinh Pháp Cú: 
Không làm các điều ác 
Nên làm các việc lành 

Tự thanh tịnh tâm ý 

Đó là lời Phật dạy. 

Qua bốn câu kệ trên, chúng ta thấy rằng tiến trình tu tập giải thoát của đạo Phật được thể hiện qua nhiều giai đoạn.  
Không làm điều ác, nên làm điều lành là hai bước đầu tiên trong việc tu tập, tuy thế chúng ta cần biết rõ ràng thế nào là Thiện, thế nào là Ác.  Đối với đạo Phật, có thể nói, tiêu chuẩn để xác định Thiện hay Ác căn cứ vào hai yếu tố hạnh phúc và khổ đau.  Hành động, từ lời nói, ý nghĩ đến việc làm, nếu đem lại hạnh phúc cho chúng sinh là Thiện và hành động gây khổ đau cho chúng sinh là Ác.  Nếu chỉ đem lại hạnh phúc cho cá nhân mình mà gây khổ đau cho chúng sinh khác cũng là việc làm ác. Tránh gây khổ đau cho người cũng tức là tránh tạo nghiệp ác cho mình.  
Như vậy khi chúng ta làm những việc thiện lành như bố thí tiền bạc, tài sản, bố thí Pháp, chia sẻ những ưu tư, những khổ đau của người khác là chúng ta đang tu phước.  Tu phước chính là gieo những hạt giống lành, hạt giống thiện, tựa như việc cất giữ tiền của vào trương mục tiết kiệm ở ngân hàng để sau này dùng dần, tức được hưởng niềm hạnh phúc an lạc.  Vì niềm an lạc hạnh phúc là điều ai ai cũng mong muốn, cho nên việc gầy dựng niềm an vui hạnh phúc cho người cũng tức là tạo nhân hạnh phúc an vui cho mình, và từ đó, nhân rộng ra cho xã hội, cho chúng sinh.  Niềm an lạc hạnh phúc không thể ngẫu nhiên đến với chúng ta, mà là do công phu tránh dữ làm lành, tránh tội làm phước bồi đắp hàng ngày. 
Phước giúp chúng ta đẩy lùi những nghiệp xấu ác của nhiều kiếp trổ ra và có công năng giúp cho chúng ta sáng suốt, thấy rõ những sự việc sai trái trên đường đời, hoặc giúp chúng ta thoát khỏi những hoàn cảnh nguy hiểm đến tính mạng.  Có những việc chúng ta tưởng chừng như buông xuôi hàng phục, vậy mà nhờ phước rồi cũng vượt thoát được.  Trong sáu hạnh tu của nhà Phật gồm Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí Tuệ, thì Bố thí là hạnh đầu tiên. Nhìn vào đó chúng ta sẽ thấy được việc gieo trồng nhân phước là quan trọng dường nào. 
Thưa quý thính giả, 
Con đường tu tập của Phật tử không chỉ giới hạn vào việc tu phước, vào việc làm lành tránh ác để kiếp sau khá hơn kiếp trước, vì như thế vẫn còn trôi lăn trong vòng sinh tử của thế giới tương đối, chưa phải là mục đích chính của đạo Phật. Đạo Phật xuất hiện trên đời là vì có sự giác ngộ của đức Phật, từ sự giác ngộ này, đức Phật chỉ con đường cho chúng sinh tu để giác ngộ như Ngài, tự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Con đường giải thoát này phải thực hiện bằng trí tuệ.  
Như vậy tu Tuệ hay tu giải thoát là bước thứ ba của tiến trình tu tập, còn gọi là “Tự tịnh kỳ ý”.  
Tu Tuệ là công phu tu tập các phương pháp làm cho tâm lắng xuống, nhằm dứt trừ vọng tưởng để thành tựu được Trí Tuệ Bát-nhã. Bát-nhã là phiên âm của tiếng Phạn paramita, có nghĩa là "qua bờ bên kia", bờ bên kia là Niết Bàn thanh tịnh, bờ bên này là đời sống tương đối.  Trí tuệ này không phải là kiến thức do học hỏi kinh sách, không phải là trí thông minh bình thường.  
Do vì mỗi người có một tâm khác nhau nên cũng khó nói có một pháp tu nào áp dụng chung cho tất cả mọi người được, vì vậy đức Phật đã chỉ dạy nhiều pháp khác nhau để mỗi người tùy căn cơ áp dụng.  Một số những pháp môn này như sau:  
- Quán tưởng: chú tâm quán sát sâu xa về một đề mục rút trong giáo lý. 
- Trì chú: chú tâm tụng niệm những câu chú gồm những chữ bí ẩn. 
- Niệm Phật: chú tâm niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà. 
- Tham thiền: chú tâm tham một công án hoặc một thoại đầu. 
Nhưng, dù là pháp nào chăng nữa thì việc thực hành cũng là trình tự đưa tâm từ trạng thái nhiều vọng tưởng về trạng thái ít vọng tưởng rồi về nhất tâm, về sau từ từ đạt đến vô tâm, rồi liễu tâm, ngưng dứt dòng suy nghĩ miên man, liên tục của ý thức. Nhà Phật quan niệm rằng sự suy nghĩ liên tục, miên man, của ý thức, còn gọi là "tâm viên ý mã", tức là tâm ý vọng tưởng chạy nhấy như con vượn, con ngựa, có tác hại là đã che mờ mất Chân Tâm, Trí Tuệ Bát Nhã.  
Hành giả nên chọn một pháp môn thích hợp với căn cơ của mình, và khi thực hành thì nên theo tông chỉ của pháp môn đó mới có kết quả. Dù thực hành theo pháp môn nào cũng nên có một vị thầy hướng dẫn. 
Thưa quý thính giả, 
Trở lại câu hỏi của vị thính giả: "Nếu kiếp này chỉ lo tu phước mà không lo tu tuệ, thì sự tu phước của kiếp này sẽ là tai họa cho kiếp thứ ba", như vậy ý này là thế nào? ”  
Chúng tôi xin thưa rằng, theo luật Nhân Quả, tu phước trong kiếp này sẽ được quả tốt trong kiếp tới.  Kiếp tới không hẳn là kiếp thứ hai mà có thể là ở một kiếp vị lai nào đó.  Bởi vì nhân phải hội đủ duyên thích hợp mới trổ quả.  
Do nhân tu phước ở kiếp này mà kiếp tới có thể sẽ được làm một nhân vật có quyền cao chức trọng, kẻ hầu người hạ, giầu sang sung sướng. Do được hưởng thiện báo đó mà người ta dễ buông lung trong trường dục lạc.  Khi ấy thì dù có bậc thiện tri thức khuyên bảo, cũng khó làm cho họ nghe theo vì họ đang trong cơn say sưa mê đắm với dục vọng.  Vì vậy nhà Phật cảnh giác người tu Phước rằng trong khi tu Phước, phải đồng thời tu Trí Tuệ, học tập giáo lý nhà Phật, dành chút thời giờ để thực tập tĩnh tâm, như thế là Phước Tuệ song tu. Chứ nếu giầu sang sung sướng, mà không có nhân hiểu biết giáo lý, không giữ gìn giới hạnh cho đàng hoàng, thì cũng rất dễ trở thành con người phóng túng, dễ tạo nghiệp xấu, thì một kiếp nào đó trong tương lai sẽ gặt quả báo xấu tuỳ theo nghiệp đã tạo.  Nên mới gọi là tai hoạ cho kiếp thứ ba là thế. 
Nói tóm lại tiến trình tu giải thoát của đạo Phật được thể hiện qua nhiều giai đoạn.  Việc lấy thiện diệt ác, cứu giúp chúng sinh, bố thí cúng dường, chỉ là bước đầu trong con đường tu tập để đi đến giải thoát giác ngộ.  Tuy là bước đầu nhưng lại là bước căn bản.  Người ta thường nói “đi buôn cần vốn, đi tu cần Phước”.  Cho nên việc gieo trồng nhân phước rất là quan trọng.  Riêng đối với những người muốn tiến xa hơn, muốn hoàn toàn giác ngộ, giải thoát, thì bản thân hành giả phải tự mình thanh tịnh tâm, chấm dứt dòng vọng tưởng miên man che mờ Chân Tâm, để Trí Tuệ Bát Nhã, cũng còn gọi là Phật Tánh, hoặc Chân Tâm được hiển lộ. 
Thưa quý thính giả, 
Chúng tôi xin lược trích câu chuyện về vấn đề "gieo nhân lành được hưởng thiện báo", do đạo hữu Viên Nhẫn kể trong bài "Phước nghiệp cho hành trình tiến tu", như sau: 
"Nhân đây chúng tôi (chúng tôi ở đây tức là đạo hữu Viên Nhẫn) xin kể lại một kinh nghiệm mới xảy ra cho đạo hữu N.C., một Việt kiều ở Pháp . Tháng 11-2000 , trong thời gian ở VN cô đã tham gia nhiều công tác từ thiện, nhất là mua thật nhiều cá để phát tâm cho hạnh phóng sinh. Sau khi lên núi tham quan một ngôi chùa ở Vũng Tàu trở về thì cô lâm trọng bệnh. Vì vốn có sẵn bệnh tim nên cô đã phải dùng một dược chất cực mạnh. Tuy nhiên thuốc đã không giúp được gì cho cô trong lúc này, hơi thở cô trở nên ngắn lại, cô ói mửa liên miên , đầu óc choáng váng , mở mắt ra không thấy gì chung quanh, mà chỉ thấy một cụm đen cuốn tròn như đưa vào một đường hầm đen tối, cô thấy thật là ngột ngạt, không dám mở mắt ra nữa. Sau đó cô không còn biết gì. Người nhà khẩn cấp đưa cô vào bệnh viện và theo như họ kể lại, thì lúc bấy giờ dù rằng rất yếu nhưng không hiểu tại sao cô lại có những bước đi thật vững vàng, nhanh hơn những người đang dìu cô đi, thành ra cô đã được kịp thời chạy chữa trong phòng cấp cứu. Sau này cô kể lại là bình nhật cô thường niệm Phật, nhưng lúc đó cô đã không niệm được, nhưng chuyện cô đi phóng sinh lại hiện ra trước mắt cô, nào là hình ảnh đau thương của những con ếch sắp bị chặt đầu với hai tay chắp lạy như van xin, nào là chuyện những ngày đến chợ cá thật sớm để đón mua những sinh vật sắp bị hành quyết. Tâm từ bi của cô đã khởi lên trong cận tử nghiệp, thiện pháp đã bộc phát thật mạnh trong cô và như chúng tôi đề cập về công năng của một người thường hay làm phước ở đoạn trên, cô đã nhận được luồng sóng gia hộ để vượt qua cái chết. Ðây thật là sự vi diệu của giáo lý nhân quả, phước quyết định cho mọi sự, chúng ta nên tận dùng thân người này để sống một đời vị tha, đó là con đường phải trải qua cho vơi đi bao nghiệp tội mà chúng ta đã phạm trong quá khứ". 
Đạo hữu Viên Nhẫn cũng góp ý về hạnh Pháp thí như sau: 
"Hạnh pháp thí gồm có truyền giảng chánh pháp cho người nghe hay trợ duyên cho việc chuyển lăn bánh xe pháp, làm cho Phật pháp ngày càng lan rộng. Sự trợ duyên này gồm có : ấn tống Kinh sách, phát hành băng , tài trợ cho quý Tăng, Ni sinh đi học, hay yểm trợ cho những khoá tu học. Gieo nhân duyên nghe pháp cho người là công đức cao nhất trong các hàng bố thí, nhờ nhân duyên pháp thí này mà quả báo mang lại cho đời sau là sớm gặp được những bậc thức giả dẫn dắt trên con đường cầu tìm học đạo. Giúp cho một người có được thiện duyên nghe pháp là giúp họ một cơ hội tiến gần đến Tam Bảo, xa dần những hệ lụy của bóng đêm nghiệp chướng , mở đường cho chuyến vượt thoát dòng sinh tử luân hồi. 
Một điểm cần nêu ra ở đây để không gây ra ngộ nhận, chúng tôi không bao giờ phản bác việc tu Huệ. Phước Huệ song tu vẫn là điều tốt nhưng đừng bao giờ xem nhẹ việc làm phước , vì phước là nền tảng cho Trí Huệ, là tiến trình cho con đường vượt thoát dòng sinh tử." 
Trong cuốn Bố Thí Ba La Mật, thày Thích Trí Siêu dạy: 
"Nhờ bố thí đời này qua đời khác, Bồ Tát gặt được nhiều phước đức, do đó Bồ Tát tin nơi Tam Bảo, nhờ tin nơi Tam Bảo, Bồ Tát phát tâm học chánh pháp, nhờ học chánh pháp, Bồ Tát phá trừ tà kiến và vô minh, nhờ phá trừ vô minh mà trí huệ tăng trưởng. . . 
Tất cả mười phương chư Phật đều bắt đầu con đường giác ngộ bằng một hạnh đầu tiên là bố thí" 
Thưa quý thính giả,  
Như quý vị đã thấy, bố thí vẫn là điều kiện cốt tủy cho người Phật tử, không những thế, còn là điều cốt tủy cho tất cả mọi người nói chung. Có câu: "Người CHO "được" nhiều hơn người NHẬN". Bởi vì người NHẬN chỉ được chút vật chất, nhưng người CHO được cả một niềm vui tinh thần, và cái thiện nhân bố thí sẽ còn lưu lại tới sau này.  
Tuy vậy, đồng thời với bố thí là tu Phước, chúng ta cũng cần phải trau giồi giáo lý và mỗi ngày dành chút thời giờ để tĩnh tâm, đó là tu Huệ, tu Trí Tuệ. Chúng ta chỉ cần ngồi lặng lẽ tại một nơi an tĩnh, nếu tại nơi thờ Phật thì tốt, nếu không thì có thể ở bất cứ chỗ nào tĩnh mịch, góc nhà, góc vườn, vân vân, rồi tự mình theo dõi hơi thở của chính mình, mỗi lúc thở ra thở vô đều nhận biết rõ, thì đó cũng là chúng ta đang đặt viên đá đầu tiên trên con đường Tu Tuệ. Cũng như mỗi ngày chúng ta phải tắm rửa thân thể, tâm chúng ta cũng cần có chút thời giờ hoàn toàn an tịnh để tự thanh lọc. 
Trong lịch sử và văn học sử, những câu chuyện đẹp về những con người sống một cuộc đời hào sảng, đầy nghệ thuật, đều là những người biết buông xả, biết bố thí và biết nhìn cuộc đời một cách phóng khoáng. Tác giả Vũ Thế Ngọc trong tác phẩm Trà Kinh, có kể câu chuyện huyền thoại về một người đàn bà nghèo nhưng hào hiệp đã vô tình sáng tạo ra loại danh trà Long Tỉnh như sau: 
"Nếu nói rằng huyền thoại là một hình thức ca tụng những gì người ta yêu quý, thì trà Long Tỉnh là một thí dụ điển hình. . .  
. . . Truyện kể rằng có một bà cụ chỉ trồng được một số gốc trà nhưng tính tình rất hào hiệp và lương thiện, vẫn dùng trà của mình thiết đãi tất cả những nhân công hái trà quanh vùng. Ngày kia có một phú thương đi ngang, sau khi được uống trà, ông hết sức ca tụng bà cụ và trách rằng người phúc đức như bà cụ thì Trời phải cho giầu. Bà cụ chỉ cười, nói rằng tạm no và không đói rách đã là may mắn lắm rồi.. Ông phú thương muốn giúp bà cụ nên hỏi mua cái chậu đá khổng lồ cũ kỹ ngoài sân. Chậu đá không hiểu có từ bao giờ và bị chôn lấp bởi hàng ngàn vạn lá trà hàng xóm rơi sang bao nhiêu năm. Bà cụ nhận bán và hẹn hôm sau ông phú thương cho người và xe đến dời đi. Hôm sau ông phú thương lại lấy đồ thì bà cụ đã quét dọn sạch sẽ, nhân tiện lấy số lá mục và bùn ẩm đó đắp vào mấy gốc trà của mình. Không ngờ đám lá trà thâm niên đó có một đặc tính kỳ diệu, chỉ vài ngày sau, các gốc trà đột nhiên sinh đợt mới, hương vị lạ lùng. Bà cụ không dấu một mình mà chia cành, chia hạt cho dân quanh vùng để cùng trồng một loại trà tuyệt diệu. Thế là từ đó cả vùng cùng vang danh có loại trà tuyệt phẩm". 
Ban Biên Tập TVHS

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

III. ÐẠI LỤC LEMURIA



Trong buổi sơ khai của nền văn minh trên đại lục Lemuria, những loại cây có nhiều đời sống không khó nhọc. Sau vì nhân số gia tăng, những người thái-cổ phải cố gắng để có thêm thực phẩm. Trước còn là đời sống vô định, nay đây mai đó, về sau họ phải gom hạt giống để trồng loại cây có nhân như hạt dẻ. Nông nghiệp bắt đầu từ đó, và là một bước tiến phi thường, cũng như ngày nay bay lên mặt trăng.
Nhiều dân Lemuria làm nghề đánh cá và tỏ ra có tài trên mặt biển. Thoạt đầu, họ ở những vùng bờ biển, rồi sau di chuyển vào nội địa. Họ nuôi cừu (trừu) và gia súc mà họ coi như là anh em, nhưng khi dân số càng đông thì họ giết để ăn thịt. Tuy rằng đa số cao lớn hơn người ngày nay rất nhiều, nhưng trong thời kỳ thí nghiệm ấy, cũng có những người nhỏ bé hơn người lùn bây giờ. Tất cả những người ấy đều ưa thích hát và nhảy múa theo nhịp sáo và nhịp trống.
Những người Lemuria đầu tiên có đời sống tâm linh cao. Họ hòa nhịp với Thượng-Ðế, nghĩa là hiểu những gì Thượng-Ðế truyền dạy bằng cách truyền tư tưởng. Dần dần họ bị ràng buộc vào trái đất, khiến thân hình nặng nề hơn, và con mắt thứ ba, là mắt sáng suốt hiểu biết mọi sự, bắt đầu lu mờ. Một số sống thanh đạm, ăn dè dặt, và luôn luôn tưởng niệm đến Tạo-Hóa, nên vẫn có thể thông cảm với Thượng-Ðế. Họ không dự vào những thú vui của người trần tục để giữ cho tâm linh họ gần với Thượng-Ðế. Họ dạy bảo dân chúng những điều trong sạch, ngay thẳng, nên được dân chúng kính nể và chia sẻ hoa lợi mùa màng với họ. Từ đấy phát sinh giới thầy tu đầu tiên.
Những người cao siêu ấy còn giữ được khả năng phân tán nguyên tử và di chuyển những tản đá lớn. Ðến đây, tác giả hỏi đến nguyên lai những đầu khổng lồ trên cù lao Easter. Dẫn-đạo-sư nói: Ðó là những tản đá rất lớn đánh dấu nơi công trường vĩ đại mà dân từ khắp nơi trên đại lục Lemuria kéo đến tụ họp trong những cuộc đại lễ. Những đầu to lớn ấy với những nét mặt khác nhau tượng trưng các vị thần, mỗi vị ngự trị trên một phạm vi riêng biệt và hướng về một phương trời. Những đầu ấy được dựng lên trong thời sơ khai, khi con người chưa bị ràng buộc vào sức thu hút của từ lực, và như thế được tạo lên dễ dàng.
Dẫn-đạo-sư kể lại một sự tích về những khối đá khổng lồ ấy. Trong thời kỳ giới thầy tu được nhiều uy tín, có những kẻ ghen ghét muốn làm giảm uy tín ấy. Họ thách đố những thầy tu trong ngôi đền tại vị trí hiện nay của cù-lao Easter: Ai có thể di chuyển một cái đầu khổng từ nơi này qua nơi kia thì sẽ được nhận đồ dâng cúng và được quyền ưu đãi hơn người khác. Những kẻ thách đố xảo quyệt ấy đã biết cách di chuyển những vật to lớn bằng một phương pháp huy động tinh thần gần như thôi miên, góp sức nhiều người cùng nhau tác động. Một số đông tụ họp lại, và đến giờ đã định họ đều bước tới, niệm câu thần chú, và cùng nhau ghé vai vào dưới cằm một cái đầu bằng đá, nâng bổng lên được vài phân, nhưng rồi kiệt lực đều té cả xuống. Ðến lượt các thầy tu, họ dùng khả năng phân tán nguyên tử, cùng nhau hát lên, ngước mắt nhìn trời, cử động bàn tay ( Có lẽ là hộ thần là bất quyết), tức thì đầu đá khổng lồ biến mất. Tất cả đám đông hoảng hốt kêu lên: "Trả lại đầu đá cho chúng tôi." - Xin vâng, thầy tu vừa nói xong, đầu đá hiện ra trên một ngọn đồi khác. Những kẻ thách đố xấu hổ, và từ đấy uy tín các thầy tu càng cao.
Thời bấy giờ có những linh hồn từ các hành tinh khác đến thăm. Mặc dù họ mang hình thể khác hẳn trên hành tinh của họ, nhưng họ có thể biến thành hình người thái-cổ khi họ đến trái đất. Vì những thân hình của họ nhẹ gần như bóng sáng, cũng như Amelius và những người thái-cổ đầu tiên, nên họ có thể đi về trong thời gian ý nghĩ phóng ra. Dẫn-đạo-sư giải thích rằng vì họ có khả năng phân tán và kết hợp nguyên tử, nên họ thoát ra ngoài ảnh hưởng từ lực của trái đất, họ nhẹ hơn không khí, tùy ý muốn biến hiện chính thân mình hoặc những tản đá lớn lúc nào cũng được, đến nơi nào cũng được. Những kim-tự-tháp Ai-Cập và các di tích khổng lồ khác đã được tạo dựng lên bằng phương pháp ấy.
Ðại lục Atlantis là một nơi thiên đường không nóng không lạnh, dân chúng thuộc giống người da đỏ, và cũng có những bán nhân thân hình thô kệnh, là dòng dõi của những người đã phối hợp với cầm thú. Không như người Lemuria chịu khó dạy dỗ và nâng cao những kẻ dị hình ấy, người Atlantis đối đãi với họ như những con vật để khuân vác nặng nề và làm những việc ti tiện.
Văn minh trên lục địa Lemuria lên đến cực điểm. Nền giáo dục rất cao, những người trưởng thành có trình độ ngang với tiến sĩ ngày nay, nhiều người còn tiến xa hơn về cảm giác và ý thức. Chính quyền rất dịu dàng, hòa hoãn, hàng ngày ít việc làm vì không có tội ác, không có thù hận. Nếu ai có điều bất hòa nhất thời với một người khác, thì người trọng tài giải thích rõ ràng quan điểm của đôi bên. Không người nào bị giam vào tù ngục, vì người ấy có thể thoát ra khỏi tức thì, bởi lẽ ai cũng có thể chuyển ý thành sự thực. Hình phạt về một hành động sai lầm chỉ là lời khuyên nhủ khiến họ hiểu tính chất của điều lầm lỗi và tránh không tái phạm.
Về luật luân hồi nhân quả, dẫn-đạo-sư nói rằng luật ấy đã có từ trước khi linh hồn nhập vào thân xác thịt. Ðó là luật trời, nếu ai làm trái thì phải đền tội. Amelius và những người sinh ra cùng thời đầu đã hiểu luật ấy. Một số vì cám dỗ mà giao hợp với cầm thú đã gây nhân xấu nó theo chúng ra ngoài thân xác cho đến thân sau, khi đời sống đã bị Thượng-Ðế rút ngắn. Khi tái sinh ra thành những Adam, Eve và thân hình khác, họ đã phải cố gắng xoá cái nợ luân hồi ấy bằng cách đối xử tốt với loài vật. Nhưng bấy giờ Satan lợi dụng cơ hội để điều khiển những kẻ làm sai ý muốn của Thượng-Ðế. Vị thần sa ngã ấy quyến rũ những linh hồn xấu xa, càng ngày càng đông bộ hạ, đi ngược lại con đường dự định của Thượng-Ðế, có lúc tưởng chừng như y có quyền năng mạnh hơn cả Thượng-Ðế, nhưng không phải. Thượng-Ðế vẫn toàn năng, vẫn theo dõi kẻ lạc đường nhất thời, và khi một linh hồn biết hối cải và hồi đầu về Cha, tức thì có sự lạ chờ đón y. Do đó mà có luân hồi, là chuyện đáng buồn cho người đời cứ phải trở lại nhiều lần vào cái thân vật chất, nhất quyết rửa sạch vết xấu xa trong tâm thức. Một số linh hồn đã tiến cao đến toàn thiện, đã hoàn tất bánh xe luân hồi, không phải trở lại đời vật chất nữa.

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

II. NGƯỜI TRÊN TRÁI ÐẤT



Các nhà siêu-hình-học đều công nhận rằng Ðại-lục Mu, cũng tên là Lemuria, trong quá khứ, là nơi phát nguyên nền văn minh. Ðại lục ấy là một vùng đất đai rộng lớn đi từ bắc California đến nam Peru, bao gồm một phần lớn Thái Bình Dương, mà những đảo Hawaii, Tahiti, Polynesia và Easter là những di tích còn sót lại. Từ miền tây California, bấy giờ thuộc bờ biển của Lemuria sang đến Bắc mỹ, là biển cả, trong đó có vùng Hồ Mặn (Great Salt Lake) tại Utah. Lưu vực sông Mississippi là bờ biển phía tây của lục địa Hoa Kỳ ngày nay. Nhưng khi Lemuria bị chìm xuống và đất nhô lên thành dãy núi Rocky và Appalachian, thì trong một thời gian, sông Mississippi đổ vào những Ðại Hồ (Great Lakes), trước khi một thiên tai khác, một lần nữa, thay đổi địa thế.
Các dẫn-đạo-sư ước rằng người thái-cổ đã có ở trên trái đất từ năm đến bảy triệu năm, sau khi những bán-nhân thô lỗ đã được sinh ra từ nhiều triệu năm trước. Người đầu tiên là Amelius có thân hình nhẹ nhàng, có thể hiện diện tức thì tại bất cứ nơi nào trên trái đất. Amelius và những người sau cũng có thân hình nhẹ như thế, đều có khả năng chuyển ý nghĩ thành sự thật, và di chuyển những vật nặng bằng cách phân tán ra và kết hợp lại những nguyên tử của vật ấy. Chính amelius cũng là một ý nghĩ của Thượng-Ðế chuyển thành sự thật.
Theo dẫn-đạo-sư nhiều người thái-cổ cao trên ba thước rưỡi, và những loài thú, cá, chim, phối hợp với họ để sinh sản ra những con dị hình to lớn, một số những con này có nhiều tài lạ khiến chúng được tôn thờ trong thần thoại Hy-Lạp và La-Mã.
Trong thời Amelius sống trên trái đất với hình thể nhẹ nhàng, con người không bị bám chặt trên mặt đất vì sức hút của từ lực, nên không nặng nề. Amelius là một thư-hùng lưỡng-thể, nghĩa là có đủ âm lực và dương lực, là một người mẫu hoàn toàn, chỉ trừ không thể ăn uống, tiêu hoá và sinh sản, bản năng này chỉ được phú cho người sau này khi đã được phân chia nam nữ. Những người bất tử đầu tiên ấy luôn luôn ở trong tình trạng trẻ trung không già không chết như người vật chất. Họ muốn đến đâu là tức thì đến đó, cũng như hình ảnh ti-vi được thấy tại tất cả mọi nơi nếu có máy thích hợp. Họ ở Atlantis, Lemuria, ở Mỹ Châu, Á châu, ở đâu họ cũng tìm cách an ủi và dạy bảo những kẻ dị hình.
Ðến khi Thượng-Ðế đặt ra luật loại nào sinh sản ra loại ấy, khiến cho không thể trộn lẫn hai loại khác nhau, thì người không còn phối hợp được với thú, chim, cá và sinh sản ra loại dị hình nữa. Từ khi có Adam và Eve đầu tiên đã phân chia nam nữ, sinh sản loài người lan tràn trên mặt đất, và thời kỳ vàng son trên Lemuria lý tưởng quá sức tưởng tượng của người hiện đại, đến nay đã hơn bốn triệu năm.
Những người đầu tiên sinh sản nhanh chóng, vì sự sinh nở tự nhiên không khó khăn, nên có nhiều phụ nữ sinh mấy chục con trong đời họ. Sự hoà nhịp với thiên nhiên được hoàn toàn nên không có tật bệnh, và họ có thể ở trong thân hình rất lâu. Nhưng về sau họ bị ràng buộc vào vật chất, nên thể chất họ trở thành nặng nề hơn và khả năng bảo vệ đời sống giảm dần đi.
Từ khi trái đất dần nguội lạnh, vỏ ngoài co lại thành những nơi lồi lên lõm xuống, những lồi lõm ấy đã thay đổi nhiều lần, khiến nên nơi này đất liền chìm xuống biển, nơi khác đất từ biển nổi lên. Dẫn-đạo-sư nói rằng gần cuối thế kỷ này một thiên tai như thế sẽ xảy ra, nhiều lục địa sẽ biến thành biển cả và biển cả trở thành lục địa, nơi băng giá sẽ nóng bức và vùng nhiệt đới sẽ đông lạnh. Một số nhà địa-chất-học cũng công nhận rằng trái đất đã thay đổi trục nhiều lần trong qúa khứ, bằng chứng là thấy có vết tích cây cối, động vật và khủng long dưới những lớp băng đá dày tại nam bắc cực. Bác-sĩ Frank Hibben ước tới bốn mươi triệu thú vật đã bị chết cứng đột ngột trong lần đổi trục cuối cùng trước đây.
Dẫn-đạo-sư khuyên những ai lo sợ thảm họa ấy hãy nhớ rằng đời sống vật chất chỉ là đời sống mỏng manh. Mục đích của chúng ta là thực hiện sự toàn thiện, để cho không phải trở lại đời vật chất nữa. Càng bám vào của cải trần gian thì càng cản trở bước tiến của tâm linh. Trong đời sống tâm linh, của cải không có nghĩa gì, vì mọi vật đều do ý nghĩ sinh ra, muốn gì có nấy tức thì. Những ai lo sợ hủy diệt vật chất, nên biết rằng thân xác tuy mất, nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại đời đời.
Lý do duy nhất năm giống người khác nhau được tạo lên là để giúp cho con người thích nghi với khí hậu. Màu da của người da đen cần để che thân dưới mặt trời gay gắt miền nhiệt đới, và cũng để dễ dàng ẩn náu trong rừng rậm âm u của Phi-Châu. Người da trắng ở nơi giá lạnh mùa đông tuyết phủ, cần ít mầu sắc để che thân dưới ánh mặt trời xiên nghiêng. Mầu nâu được dành cho những người ở vùng bán-nhiệt-đới Thái Bình Dương nhiều gió bão. Màu đỏ để hoà đồng với đất đỏ châu Atlantis và châu Mỹ. Sau cùng mầu vàng cho người phương đông hợp với đất vàng và mặt trời ít gắt. Mỗi giống có một thủy tổ Adam hay muốn gọi tên gì cũng được, và một Eve tượng trưng cho sự tạo thành con người hoàn toàn có bộ phận loài vật.
Dẫn-đạo-sư đồng ý với Edgar Cayee rằng Amelius tái sinh là Adam và Eve, cả hai đều tái sinh nhiều triệu năm sau là Jesus và Mary. Về điểm dẫn-đạo-sư ước từ năm đến bảy triệu năm từ khi có người thái-cổ trên trái đất, tác giả vẫn còn thắc mắc cho đến ngày 31-10-1975 được đọc một bài báo Associated Press như sau: "Các nhà bác học đã tuyên bố hôm qua rằng xương người cổ xưa nhất đã được tìm thấy tại một lòng sông khô cạn miền đông Phi Châu. Những răng và xương hàm đã hóa thạch của 11 người đã được ước lượng chính xác bằng kỹ thuật phóng xạ, có từ 3.350.000 đến 3.750.000 năm. Ðây là di tích cổ xưa nhất thế giới.

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Thế Giới Khi Xưa (THE WORLD BEFORE)



Tác giả: Ruth Montgomery Coward, Mc Cann Geoghegan, Inc. 200 Madison Ave, New York, NY. 10016
LỜI NÓI ÐẦU
Tác-giả là một phóng viên báo chí, vốn không tin những sự huyền bí. Nhưng trong nhiều năm, bà đã được chứng kiến nhiều sự kỳ lạ xảy đến cho những người thân và bạn bè, báo trước những việc sắp tới, hoặc báo tin đúng lúc việc xảy ra tại nơi khác rất xa, có khi phải vài ngày sau mới được tin theo lối thông thường. Bà cũng đã tiếp xúc với nhiều con đồng (medium), dự nhiều phiên gọi hồn và viết tự động mà ta gọi là cầu cơ. Con đồng là người có khả năng tiếp xúc với người sống qua miệng hoặc tay của họ. Chính tác-giả cũng có khả năng đánh máy tự động, là để cho một linh hồn mượn tay của mình đánh máy ra những điều muốn nói.
Bà là một trong nhiều nhà học giả khảo cứu về thế giới vô hình. Nhờ những điều hỏi được các linh hồn, bà đã viết ra một số sách, như: A Search for the Truth (Tìm Sự Thật), A Gift of Prophecy: Jeane Dixon (Nhà Tiên Tri Jeane Dixon), Here and Hereafter (Ðây và Sau Ðây), A World Beyond (Thế Giới Bên Kia) và cuốn này.
Cuốn Thế Giới Khi Xưa này cũng được viết ra bằng những tài liệu do những linh hồn cao siêu mà tác giả gọi là Dẫn-đạo-sư (spirit guides) đã đánh máy ra qua bàn tay của bà. Dẫn-đạo-sư kể lại sự tích từ khi khai thiên lập địa, nghĩa là từ khi trái đất mới thành hình, rồi bắt đầu có loài người, những sự phấn đấu của những người thái cổ (homo-sapiens) với thiên nhiên và với những giống vật khổng lồ đời tiền sử.
Khi Dẫn-đạo-sư nói đến những điều khó tin như cây cối rậm rạp vùng nhiệt đới tại nơi ngày nay băng giá quanh năm, tác giả đã tham khảo và tìm thấy những tài liệu khoa học trong tập Bách-Khoa Toàn Thư Encyclopedia Britannica) và vài cuốn khác, nói đến những vết tích cây cối và động vật bị chết cứng đột ngột dưới lớp băng đá rất dày trong những trận thiên tai đời thượng cổ. Khi Dẫn-đạo-sư nói đến lục địa trên vùng đại dương ngày nay, hoặc nói đến biển cả ở nơi đất liền hiện tại, tác giả cũng tìm được tài liệu khoa học chứng minh sự biến đổi đó.
Dẫn-đạo-sư nói rằng loài người bắt đầu sinh ra trên trái đất cách đây từ 5 đến 7 triệu năm. Người Bắc Kinh (là bộ xương cổ xưa tìm thấy tại vùng Bắc Kinh) được coi là bộ xương người xưa nhất mà các nhà bác học ước đã được 500 ngàn năm. Nhưng khi cuốn sách này sắp được xuất bản (1976) tác giả được biết các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại miền đông Phi Châu, những xương bàn tay người ba triệu năm trước và xương sọ người một triệu rưỡi năm trước. Bác-sĩ Donald Johnson nói rằng sự xem xét hơn ba chục xương bàn tay và cổ tay rải rác trên một sườn đồi cho thấy rằng bàn tay có thể cử động như bàn tay người thời nay, chứ không như bàn tay của hai loài đười-ươi (gorilla và chimpanzee) là loài khỉ gần giống người hơn cả, hai loài này vẫn phải chống tay xuống đất để đi. Ðiều nhận xét này loại bỏ thuyết của khoa học cho rằng người và khỉ cùng chung một thủy tổ.
Bác sĩ Duane Gish cũng tìm thấy tại một lòng sông vùng Texas có vết chân người in vào đá gần vết chân khủng long.(có lẽ xưa là đất, lâu ngày đất ấy trở thành đá).  [Khủng long (dinosaur) là một loài vật khổng lồ thời tiền sử, thuộc loài thằn lằn, có khi dài đến 30 thước (100 ft) cao hơn 5 thước (18 ft), thường chân sau rất lớn, chân trước rất nhỏ, đuôi lớn và dài, cổ ngắn đầu to, hoặc cổ dài đầu nhỏ.]
Ðiều này chứng tỏ loài người đã có sớm hơn là người ta tưởng, vì các khoa học gia vẫn cho rằng khủng long đã tuyệt chủng nhiều ngàn năm trước khi có người. Những người thái-cổ đã phải phấn đấu kinh khủng với những vật khổng lồ trong nhiều triệu năm sống chung với chúng.
Trong cuốn này, các dẫn-đạo-sư nói đến ba thiên tai, một trong đó là nạn trái đất đổi trục đã khiến cho vùng đại-lục Lemuria chìm xuống dưới Thái Bình Dương, đồng thời loài khủng long bị tuyệt chủng. Tác giả nghi ngờ rằng sao trái đất còn tồn tại được qua một tai nạn lớn lao nhường ấy, nhưng sau được biết các khoa-học-gia hiện đại đã nói Bắc-cực và Nam-cực đã có nhiều lần thay đổi vị trí trong thời gian ngàn triệu năm qua.
Dẫn-đạo-sư cũng đồng ý với Edgar Cayee {Edgar Cayee là một người Mỹ, làm nghề chụp hình, nhưng có khả năng tự thôi miên. Khi ông thức tỉnh chỉ là một người thường, không hiểu biết gì hơn người khác, nhưng khi ngủ thôi miên, ông rất sáng suốt, có thể:
- Nói rõ nguyên nhân bí hiểm bệnh tật của một bệnh nhân và cách chữa, trong khi các bác sĩ đều chịu bó tay.
- Nói ra những hành vi qúa khứ của một người trong những đời trước, đã đưa đến hậu quả là những khổ nạn mà người ấy phải chịu ngày nay.
- Nói về những biến cố lớn trong quá khứ và tương lai.
Ông đã qua đời vào khoảng 1945, thọ hơn 70 tuổi. Ông còn để lại hơn 30 ngàn hồ sơ về các buổi thôi miên của ông.} rằng gần cuối thế kỷ này sẽ có một lần trái đất đổi trục nữa, nhưng lần này có điều đáng mừng hơn là đáng sợ, vì tai nạn ấy sẽ đem lại một nền hòa bình, bởi lẽ nhân loại sẽ có quá nhiều vấn đề kiến thiết phải lo, không còn đầu óc nghĩ tới tham vọng đất đai của kẻ khác. 

I. THUỞ SƠ KHAI

Trong Thánh-Kinh (Bible) có câu: "Thuở sơ khai, Thượng-Ðế tạo ra Trời và Ðất". Nhưng thế giới từ đâu mà có, và trước đó là gì? Dẫn-đạo-sư nói rằng: Trước đó chỉ là sự trống rỗng sâu thẳm quá sức hiểu biết của con người. Không có hỗn mang, không có tiếng động, không có yên tĩnh, không có gì cả. Thế nhưng cái Mãnh-lực mà ta gọi là Thượng-Ðế vẫn có luôn luôn ở đó, vì khôngcó Thượng-Ðế thì không có vật gì, không có động lực, cũng không có cả cái không có.
Hỏi: cái Mãnh-lực ấy từ đâu ra? Dẫn-đạo-sư thành thật nói: Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi ấy, vì lẽ trước khi phát sinh ra linh hồn con người thì chưa có cuốn sổ thiên nhiên (Cuốn sổ nầy theo như tôi hiểu, là cuốn sổ vô hình, mà ta thường gọi là sổ Thiên Tào, ghi chép tất cả các việc ở thế gian không thiếu xót việc gì. Các nhà Tiên tri là những người có thần nhãn có thể xem thấy cuốn sổ ấy và biết được những việc quá khứ vị lai. Cũng thế, tất cả hành động của một người từ bao nhiêu đời trước đều được ghi vào trong tâm thức, mà kinh Duy thức gọi là A-lại da thức hoặc thức thứ tám, thức ấy bất diệt và mang theo kho tàng phúc tội từ đời nầy sang đời khác theo luật luân hồi nhân quả.)
Cho đến khi Thượng-Ðế đặt những hành tinh vào quỹ-đạo, tạo nên tác động và sự hòa nhịp, thì linh hồn chúng ta chỉ là những phần tử của Toàn Thể, không có sự linh hoạt và hiểu biết. Nhưng Mãnh-lực ấy vẫn có đó, Thượng-Ðế vẫn có đó, vẫn có ở đó cái trí thông minh hoàn toàn khôn khéo, ngoài tầm hiểu biết của tâm trí con người.
Cái Mãnh-lực ấy bắt đầu tác động, và những ý nghĩ nẩy sinh ra trong Ðại-Thể ấy, để rồi trở thành sự thực. Từ những nguyên tử hợp thành mảnh li-ti, rồi những mảnh li-ti cuốn vào nhau quay theo chiều hướng nhất định, dần dần đến những khối lớn trở thành hành tinh xoay quanh những mặt trời do từ lực hút dẫn.
Vài hành tinh dần dần khô cứng vỏ ngoài, sinh vật vi-tế hiện ra, trước còn đơn giản như những tế bào, sau phức tạp hơn như trứng, tinh trùng và bào thai. Từ Mãnh-lực ấy, gọi là Thượng-Ðế, bắn ra hàng triệu triệu tàn lửa, mỗi tàn lửa là một linh hồn bao quanh Ðại-Thể, mỗi linh hồn được tự do đi theo ý muốn của mình. Theo các Dẫn-đạo-sư, tất cả chúng ta được tạo nên cùng một lúc trong lần bùng nổ tàn lửa đầu tiên ấy, sau đó không có tạo ra linh hồn nào nữa, và cho tới nay có nhiều linh hồn còn chưa bước vào đời vật chất.
Lúc phôi thai, các linh hồn là những tàn lửa nhỏ do Thượng-Ðế phóng ra, cũng như những đứa trẻ chập chững đi bên cạnh cha, đều ngây thơ như nhau. Rồi sau có một số lang thang ra ngoài đường chính như những đứa trẻ mất nết, muốn thử sức mình mà không theo khuôn khổ của Thượng-Ðế. Nhân đó, những tính xấu như ghen ghét, tham vọng, phát sinh và càng ngày càng tăng trưởng.
Nói đến sự cấu tạo lên vũ-trụ, dẫn-đạo-sư viết: Có nhiều chuyển biến trong thời gian trái đất dần dần đặc cứng. Ðầu tiên là khí, rồi đến nước, rồi đến đất, đến cỏ cây, đến sinh vật, rồi những linh hồn nhập vào sinh vật hưởng thú ăn, ngủ, sinh sản, rồi bị ràng buộc vào thân hình vật chất.
Rồi Mãnh-lực mà ta gọi là Thượng-Ðế lại sinh ra một loại sinh vật trình độ cao hơn, có bàn tay, bàn chân, và xương đứng thẳng, với khối óc lớn hơn, có thể phân biệt thiện ác, và có thể điều khiển thú vật, chim cá, nhờ thông minh hơn. Mới đầu mọi sự đều tốt đẹp, sau vì họ được tự do làm theo ý muốn, những sinh vật ấy phối hợp với những linh hồn đã nhập vào thân súc vật, mà sinh sản ra những loại bán-nhân dị-hình, như người có móng chân ngựa, có đuôi, sừng, vây cá, lông chim. Ðó là các hậu quả thương tâm của sự cố ý bất tuân lệnh Thượng-Ðế. Những bán-nhân ấy xưa kia nhan-nhản trên trái đất, nay còn nhớ lại là những thân hình chân ngựa mình người (contaur), thần dê (salyr), người đuôi cá (mermaid). Một số đã được tạc hình trong các ngôi mộ cổ Ai-Cập, những thân hình người có sừng, có móng vuốt, có cánh, hoặc bộ phận bất thường khác. Ngay cả đến tượng thần Sphinx tại Ai-Cập, là một trong những kỳ quan thế-giới, cũng được tạc với mặt người, thân sư tử và có cánh. Những thân hình ấy, không nên coi là chuyện thần thoại, mà là có thực, do lỗi lầm nguyên thủy là sự phối hợp với loài vật.
Tại sao những người đầu tiên ấy lại phối hợp với thú vật, cá và chim? Dẫn-đạo-sư nói: Thoạt kỳ thủy, mỗi linh hồn là một thư-hùng lưỡng-thể, có đủ cả âm-lực và dương-lực, cũng như Thượng-Ðế. Một linh hồn có thể tự ý muốn ở trong một xác thân bao lâu cũng được, hàng ngàn năm, vì thế không cần sinh sản. Nhưng sau có những linh hồn bị ràng buộc vào thân xác thịt và phối hợp với loài vật, nên cần phải đặt ra một hệ-thống để cho con người có thể sinh sản riêng giống người và thỏa mãn nhu cầu phối hợp. Nhân đấy, một linh hồn nhập vào thân xác thịt được chia làm hai, tức là hai nửa, và chỉ khi nào hết đời vật chất trở về cõi tâm linh, hai phần mới lại nhập một. Linh hồn đầu tiên nhập vào thân hình người là Amelius, là một cá thể hoàn toàn. Nhưng đến khi Amelius trở lại thì thành ra hai phần Adam và Eve.
Tác giả nhắc lại lời Edgar Cayee cũng nói đến tên Amilius, hai chữ khác nhau về chính tả, vì Edgar Cayee chỉ "nói" lên trong lúc thôi-miên, còn dẫn-đạo-sư đã đánh thành chữ nên chính xác hơn.
Tập quán thông thường coi đàn bà ở địa vị thấp hơn đàn ông. Thực ra việc sinh con đẻ cái cực kỳ quan trọng. Vả chăng mỗi chúng ta khi trở lại trái đất, lấy thân hình hoặc nam hoặc nữ, vậy vinh dự không dành riêng cho phái nào. Ngay chính Thượng-Ðế là một cá thể hoàn toàn, chẳng phải nam, chẳng phải nữ; chúng ta gọi là Cha, chỉ là theo tập quán thông thường.
Sự sinh ra những người đầu tiên là một biến chuyển cực kỳ quan trọng, không những vì trình độ trí khôn và thân hình con người cao hơn tất cả các sinh vật khác, mà còn vì chính một phần tâm linh của Thượng-Ðế ở trong đó, khiến con người, với sự tự do làm theo ý muốn, có thể đạt đến quyết định sau khi suy luận, điều này hoàn toàn không có trong loại vật. Y được chọn con đường y đi, được thương yêu và được thù hận, vì y là một phần của Thượng-Ðế, nên y có thể tạo ra ý nghĩ rồi đem ý nghĩ đến chỗ thực hiện. Như vậy, con người trở lên một cá tính, nhưng vẫn là một phần của Toàn Thể Vĩ Ðại, vậy thì ghét bỏ hay khinh khi một người khác tức là thù hận chính mình và cả Tạo Vật. Mỗi chúng ta là một phần của Toàn Thể Nguyên Thủy, và bị tách ra cho đến ngày chúng ta được hợp trở lại với Thượng-Ðế.
Những lời Dẫn-đạo-sư nói cũng tương tự lời của Edgar Cayee và những nhà siêu-hình-học khác, vì lẽ tất cả sự việc đều ghi vào sổ thiên nhiên, và những tâm linh sáng suốt được đọc sổ ấy, đều được nói lên sự thật như nhau. Edgar Cayee cũng nói rằng Amelius là thiên thần đầu tiên nhập vào thân hình người, và một số linh hồn đã làm trái ý muốn của Thượng-Ðế mà phối hợp với cầm thú, khiến cho những quái vật được sinh ra. Sự kiện này đã tiếp diễn trong nhiều ngàn năm.
Nhưng từ khi linh hồn người được phân chia ra nam nữ để sinh sản ra cùng giống, Thượng-Ðế đặt ra luật khiến cho loài người không thể sinh ra con cái khi phối hợp với loài khác. Năm giống người được vào trái đất cùng một lúc, mỗi giống có một mầu da riêng biệt để thích hợp với ánh nắng mặt trời và hoà đồng với hoàn cảnh (Từ trước tôi không khỏi thắc mắc, sau khi đọc truyện Adam và Eve, rằng ai là thủy tổ của loài người. Theo kinh Thánh (Bible), Ðức chúa trời (God) đã tạo ra trời đất cỏ cây động vật và sau cùng là người trong sáu ngày. Người đầu tiên Adam và Eve sinh ra tại vườn Eden ở trong khu vực Assyria-Euphrates, tức là vùng tây Á châu từ Ðịa trung hải đến vịnh Ba tư. Ðến khi cháu Adam đời thứ 20 là Abram (sau đổi là Abraham) vì nạn đói phải đi sang Ai Cập, và cháu Adam đời thứ 23 là Joseph bị các anh bán sang Ai Cập, thì thấy rằng người Ai Cập không phải là dòng-dõi Adam. Theo tập Exodus là Jehovah (chương 6) "là Ðức Chúa Trời của người Do Thái" (The Lord of the Hebrews, chương 3), vậy Ðức Chúa Trời trong Kinh Thánh chỉ sinh ra người Do Thái, chứ không sinh ra người Ai Cập. Ngoài ra, còn người Á châu da vàng, người Âu châu da trắng, người Phi châu da đen, người Mỹ châu da đỏ, ai đã sinh ra? Nay đọc cuốn sách nầy, dẵn đạo sư nói có năm giống người được sinh ra tại năm nơi với màu da khác nhau, như thế có lý hơn.)
Từ đấy mặt địa cầu càng ngày càng đông người ở. Những tâm linh ở trong thân hình người ấy có thể giao tiếp với nhau bằng ý nghĩ, và cũng có thể tự ý thoát ra khỏi từ lực của trái đất, để tạo lên những vật rất to lớn và di chuyển vật ấy từ nơi này đến nơi khác. Thực ra họ có thể phân tán ra và kết hợp lại những nguyên tử, nên với phương pháp giản dị này, ta thấy có những đầu khổng lồ trên Cù-lao Easter (Easter Island) (Easter Island là một cù lao trên Thái Bình Dương thuộc Chi Lị (Chile)), kim-tự-tháp lớn tại Ai-Cập, và nhiều di tích khác của một nền văn minh cao hơn ngày nay rất nhiều.

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Thế giới bên kia (phần 3)


Khi chúng ta tham thiền là chúng ta được gần Thượng-Ðế, chúng ta gặp Thượng-Ðế ở trong chúng ta. Càng thiền được nhiều trong cõi hữu hình, thì càng tiến nhanh trong cõi vô hình. Nên nhớ là khi tham thiền, bắt đầu phải thở cho sâu, để tống r a những hơi độc tích tụ trong thân hình. Ðọc một câu chú, rồi nghĩ rằng mình hòa đồng với Vũ-trụ. Hãy tự coi mình là một phần của tạo Vật, của tinh hoa Thượng-Ðế, hãy quên cá tính mình đi, tưởng tượng như mình với Vũ-trụ chỉ là một. Sau một thời gian, sẽ cảm thấy mình nhẹ bỗng, tựa hồ như một tâm linh bay vơ-vẫn trong một bầu trời xa lạ. Hãy thí nghiệm, luôn luôn giữ ý nghĩ hợp nhất hoàn toàn, chẳng bao lâu sẽ cảm thấy hòa đồng với Tạo Vật. Rồi tiến sâu hơn, hãy để cho tâm linh Thượng Ðế tràn ngập vào tâm khảm mình. Hãy dành ra ít nhất 15 hay 20 phút mỗi ngày giữ yên lặng như thế. Hãy đón nhận lời của Thượng Ðế.
Cầu nguyện khác hẳn với tham thiền. Cầu nguyện là tác động, không phải thụ động như tham thiền, mong cảm đến trái tim của Thượng-Ðế. Nghĩ điều thiện thì Thượng Ðế ở kề bên. Hãy cầu nguyện cho một mục tiêu tốt đẹp, không phải cho lợi riêng m ình. Nên nhớ rằng cầu nguyện để hại người khác, thắng địch thủ, hơn bạn bè là vô ích.
Khi một linh hồn mong đợi gần Tâm của Thượng-Ðế, nó sẽ nâng cao ý nghĩ đến độ cảm thấy mình như bay bổng và đầy khoái lạc. Cảm giác mạnh đến nổi quên cả mình trong thế giới tâm linh, bấy giờ thấy rằng khoái lạc xác thịt không còn có nghĩa g ì nữa. Rồi từ đó sẽ tiến lên, không phải trở lại đời vật chất nữa. Trên tầng cao hơn, ta chỉ còn là tâm thức, không còn nghĩ đến cá tính nữa. Tầng nầy chưa phải là tầng cao nhất, chỉ là một nấc thang trên đường tiến hóa. Chúng ta đi trong ánh sáng, ánh sá ng của Chân-Lý Vũ-trụ. Cũng không ở luôn mãi đó, mà tiến mãi đến toàn thiện.
Ông Ford nói đến một người, lúc sống đã học hỏi, hiểu biết và tham thiền linh hồn thoát xác được sáng suốt ngay. Sau khi chào hỏi bạn bè thân thuộc y tham thiền trong khi rung động của vũ-trụ tràn ngập y với cảm giác sung sướng lạ lùng. Y tìm ngay những hồn mới đến, lạc lõng hoặc mê man để giúp đỡ. Y không mất một giây phút thương tiếc cho cái thân xác đã mất, y biết rằng sẽ gặp lại người thân trong cõi-vô-hình, y đã để lại mọi việc tốt đẹp trên đời, nay y tiếp tục tiến hóa. Có nhiều người được như thế, không phải ai nấy đều biết rõ những gì chờ đón họ, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận mọi điều Thượng Ðế ban cho, và rất vui mừng rằng vẫn được tiếp tục hoạt động với nhiều việc để làm.
Người nầy sẽ tiến rất nhanh, sẽ sớm có dịp trở lại thân hình khác, hoặc tiến lên tầng cao hơn. Nếu muốn tiến lên, thì phải học các thầy tiến hóa. Các thầy sẽ dạy cách thay đổi tần số rung động để dần dần hòa nhịp với với rung động ở tầng trên. Khi tần số rung động của họ đã cao và lên được tầng trên, thì chúng tôi sẽ không thấy họ nữa, mặc dù họ vẫn ở đây, họ vẫn thấy chúng tôi, đại-khái cũng như người trần không thấy chúng tôi mà chúng tôi vẫn thấy người trần. Nhưng nếu họ muốn thì họ vẫn có thể hạ thấp rung động để cho chúng tôi thấy. Trong đoạn sau, ông Ford sẽ nói đến những tầng trên rõ ràng hơn.
Ông Ford trước kia đã được lên tầng trên, nhưng tự ý muốn trở lại thế gian để thực hành những điều đã học hỏi. Vì thế khi ông là mục sư ở trong trại lính, ông đã trông thấy danh sách những người chết đêm trước khi ông mới ngủ giậy còn ở trong phòng (xem trang 13) vì đã có khả năng nhận tin tức từ khắp nơi.
Trái lại, một người không tin, lúc sống cho rằng chết là hết không còn gì nữa, khi mở mắt ra thấy có nhiều người quanh mình khuyên nhủ và giúp đở, lại cho là ảo-ảnh, là tưởng tượng, không phải thực, nên nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra thì không thấy ai nữa, mà thấy mình rơi vào vực thẩm đen tối, ở trong tình trạng rất sợ hãi. Tình trạng nầy thường kéo dài rất lâu, đến khi nào lòng tin trở lại, cầu Thượng Ðế cứu, bấy giờ lại được thấy nhiều người đến giúp đở. Những linh hồn nầy khi tỉnh ngộ rồi thì cố gắng học hỏi, giúp đỡ những hồn khác và sẽ tiến hóa nhanh. Còn những hồn cố chấp không tỉnh ngộ thì cứ ở trong cảnh đen tối hàng ngàn năm.
Kẻ sát nhân cố tình giết hại người khác để thỏa mãn ác ý của mình, thì ở trong tình trạng như chết một thời gian lâu, đến khi tỉnh giậy thấy mình ở trong địa ngục mà chính mình đã tạo nên. Không phải là trông thấy quỷ sứ, nhưng thấy chính mặt y bị biến dạng vì thù hằn, tham lam, ác độc. Y sợ rúm lại tưởng mình bị quỷ nhập. Y thất đảm khi nhận ra rằng không những y đã bỏ phí một đời không tiến, mà còn thụt lùi trở lại nhiều đời nữa mới có thể chuộc được tội y. Bấy giờ y nhớ lại ý muốn của y là vượt qua mọi sự cám dỗ khi y bước vào cuộc đời, khốn nỗi y đã làm trái ngược với ý muốn ấy.
Linh hồn nầy bị đau khổ trong thời gian rất dài. Ðến khi thất vọng cùng cực, y rên xiết cầu Thượng-Ðế cứu. Nếu y thực tâm hối hận, những linh hồn khác sẽ đến giúp y, và dần dần y sẽ tiến lên rất chậm, rất chậm, cho đến khi hiểu biết cái hình phạt vì đã lấy đi một mạng sống do Thượng Ðế ban cho. Như Lee Oswald đã bắn John Kennedy, và Jirhan đã bắn Bobby Kennedy, sẽ còn phải đau khổ lâu lắm trong sự hối hận. Ðến như Hitler thì chẳng khác nào y bị trơ-trọi trên một cù-lao đen tối không nhà cửa , và sẽ không bao giờ rữa sạch được tội ác của y.
Người tự sát trong một giây phút thất vọng, đã lầm tưởng rằng chết là giải quyết được vấn đề, không biết rằng đâu có dễ-dàng giải quyết như thế, và chúng ta không có quyền dập tắt ngọn lửa sống mà Thượng Ðế đã thắp sáng lên. Ðược mang cái thân xác thịt là đặc-ân Thượng Ðế ban cho để trả nợ nghiệp chướng. Nhiều hồn khác còn phải chờ đợi để được trở lại làm người, nay ta đã được rồi lại hủy bỏ cái đặc-ân ấy, thì nghiệp chướng sẽ tăng lên gấp mười, và phải chờ đợi rất lâu mới lại được đầu thai.
Những nạn nhân bị sát hại không mang mối hận thù kẻ đã hại mình. Ở trong cõi vô hình mà còn hận thù thì sẽ bị thoái hóa rất nhiều, có khi hàng vạn năm. Họ hiểu rằng như thế là họ đã trả được nghiệp chướng, trả được tội lỗi quá khứ, và sẵn sàng tha thứ.
Ông Ford nhắc lại rằng không có tòa án xử tội, ngoại trừ chính lương tâm chúng ta, lương tâm ấy lại chính là Thượng Ðế. Khi tấm màng che mắt ta không còn nữa, thì ta thấy rõ đâu là trái đâu là phải. Ta rất vui mừng khi nhận thấy rằng những việc giúp đở nhỏ mọn, một lá thơ hay một nụ cười an-ủi, những việc mà ta đã quên, lại giúp ích cho ta tiến hóa nhiều hơn. Trái lại những hành động mà ta tin rằng có lợi cho ta lại làm cho ta chậm tiến, vì ta đã làm một cách rầm-rộ, khoa trương, để được hãnh diện, được khen ngợi. Hãy giúp người chỉ vì người ta cần giúp, tùy theo khả năng của mình, xong rồi quên đi đừng mong cảm ơn và báo đáp, cũng không cần ai biết cả. Hãy coi mình như một cái giếng, lúc nào cũng tràn đầy tình thương.
Chỉ có thể chữa bỏ những thói hư tật xấu ở trong đời hữu hình. Ở cõi vô hình không làm gì được cả vì không có những cám dỗ. Trường học gian khổ là đời vật chất, có nhiều cám dỗ mà ta phải vượt qua.
Có người lấy làm lạ tại sao có những linh hồn tiến hóa cao luôn luôn giúp đỡ người khác, lại có những linh hồn cục-cằn không hơn thú vật. Sự đó có thật. Lúc mới đầu chúng ta đều như nhau, là những tàn lửa của Thượng Ðế, nhưng trải qua những đời sống trên trái đất, mỗi linh hồn phản ứng với hoàn cảnh một cách khác nhau. Chớ nên mắc vào thói hư tật xấu, luôn luôn giúp đở người khác, nhớ mục tiêu là trở về với Thượng Ðế.
Ðừng mong tiến hóa lấy riêng mình, không thể nào có chuyện ấy. Nếu muốn chạy đua vượt lên trước người khác, thì không bao giờ đến được thượng đỉnh. Bỏ lại người khác là cách tốt nhất để thục lùi, rồi phải bắt đầu trở lại. Cần phải thương yêu lẫn nhau, giúp đở người khác cùng tiến với mình.
Tự ta ghi chép lấy vào cuốn sổ của ta. Không có tòa án, không có quan tòa râu bạc nào, ngoài lương tâm của chính ta, không thể che đậy gì được, không thể trốn chạy đâu được.
Những tầng cao hơn có nghĩa là những trình độ thức-giác cao hơn, chứ không phải là ở tầng lớp cao hơn, vì các giới cùng ở một nơi. Muốn được tiến lên tầng cao, cần nhiều công phu học hỏi, những người ở tầng trên mà muốn xuống tầng dưới thì rất dễ-dàng. Người ở tầng dưới không thấy được người ở tầng trên, nhưng người trên thấy rõ người dưới, đại khái cũng như chúng tôi đối với người ở cõi trần. Không thể lấy lời nói của trần gian để tả trình độ sáng suốt ở mỗi tầng. Ví như một quả bóng thổi phòng bằng khinh khí, khi còn ở dưới đất là còn trông thấy và sờ mó được, nhưng khi đã cắt dây thì quả bóng bay lên, cũng như sợi dây bạc nối hồn với xác, khi chết dây đứt thì hồn lìa khỏi xác. Quả bóng lên cao trên thượng tầng không khí, người dưới đất không trông thấy nữa, nhưng ở trên cao vẫn trông thấy ở dưới. Ðó là thí dụ rất thô sơ, nhưng khó nói rõ hơn, vì tâm chí người ta bị hạn chế, không thể hiểu xa hơn được. Chúng tôi hiện nay ở cõi trung-giới, còn có liên lạc với đời vật chất, những người ở tầng trên đã đoạn tuyệt với trần gian.
Chúng tôi học hỏi ở đây, có thể lựa chọn hoặc trở lại luân hồi, hoặc tiến lên tầng trên. Tầng trên ví như tầng không khí loãng, trong một thời gian không còn liên lạc với những hồn khác và với cõi trần. Chúng tôi như là bay bổng trong một bầu khí quyển mà tần số rung động rất cao. Tạm giải thích như vậy, thật ra không có lời nào tả được. Ở đấy không khí rất mạnh, hay đúng ra là không có không khí, không có gì che đỡ những tia sáng chói lọi. Chúng tôi phải cố gắng chịu đựng ở đó, rồi lại học hỏi để tiến xa hơn nữa.
Rồi sau chúng tôi đi qua từ tinh cầu nầy sang tinh cầu khác. Chúng tôi đi trên mặt tinh cầu như người trần đi trên mặt trái đất, chỉ khác là không còn thân xác thịt nặng nề. Chúng tôi chỉ còn như là ý nghĩ (theo kinh Phật thì có lẽ đây là H ữu-tưởng-giới). Lên trên nữa thì chúng tôi chỉ còn là ánh sáng, tuy nhiên chúng tôi vẫn là chúng tôi, cái ta vẫn còn.
Những tầng trên có thể gọi là tầng thứ ba và tầng thứ bốn, những tầng chỉ khác nhau về tần số rung động. Chúng tôi phải học hỏi để có thể thích hợp được với những làn sóng ánh sáng và tiếng động nó mạnh đến độ có thể làm mù hoặc điếc những người ở cõi trần. Chúng tôi bấy giờ ở trong tình trạng như một chất dịch-thể, tuy nhiên không phải là một chất lỏng. Chúng tôi được đổ vào cái khuôn Vũ-trụ "nói thế cho dễ hiểu" và gần như hợp nhất với Vũ-trụ.
Ðó là tầng thứ ba. Tầng thứ bốn là lên ở những tinh cầu khác như Hỏa-tinh, Thủy-tinh, Mộc-tinh, Kim-tinh, Thổ-tinh..v.v. nhưng không phải là thân vật chất, mà là trình độ giác-thức cao hơn. Trên những tinh cầu đó cũng có hình thể sinh vật, nhưng khác hẳn với hình thể trên trái đất, trình độ tiến hóa các sinh vật ấy cũng khác nhau.
Nếu một linh hồn tội lỗi nhiều kinh khủng đến độ cần phải tới ngàn triệu đời sống mới chuộc được, thì linh hồn ấy sẽ ở trong tình trạng tuyệt vọng nơi trái đất nầy (thí dụ như Hitler). Linh hồn ấy có khi phải nhận lấy một thân hình hoàn toàn khác mà chúng ta ở trái đất không gọi là người, ở trên một tinh cầu khắc khổ bội phần, để có thể đền bù tội lỗi nhanh chóng hơn.
Những tâm linh ở trái đất muốn tiến hóa lên những tầng cao, phải mất nhiều công phu học hỏi nâng cao tần số rung động của mình, để không những lên cao mà còn phóng mình sang tinh cầu khác. Cuộc viễn-du nầy khiến họ học hỏi được nhiều về nhữ ng định luật của Vũ-trụ. Và khi lên đến tầng thứ bốn và thứ năm, thì có thể ở trên nhiều tinh cầu cùng một lúc, vì khi đó với thức-giác cao, hồn có thể phân thân ra nhiều nơi.
Cao hơn hết là tầng thứ sáu, linh hồn đã đạt tới toàn thiện, có thể hợp nhất với Thượng-Ðế. Tất nhiên chúng tôi còn xa quá chưa thể biết được, nhưng được dạy cho biết rằng khi một linh hồn gần đến mức toàn thiện, phải kiểm điểm lại tất cả bao nhiêu đời đã qua, từ đời trước nhất, không còn gì vướng mắt nữa. Chúng tôi chỉ được nghe nói thế thôi, những linh hồn đó không bao giờ quay ngược bánh xe vận mệnh vòng trở lại nữa.
Sáu tầng trên đây có lẽ cũng là những giới nói trong kinh Phật.
Tầng thứ nhất là cõi Dương thế mà chúng ta đương sống, có thân hình vật chất, có dục tính, thường gọi là hạ giới, kinh Phật gọi là Dục giới.
Tầng thứ hai là cõi âm, cõi của những linh hồn mới bước qua bên kia, gọi là trung giới, kinh Phật gọi là Sắc giới.
Tầng thứ ba linh hồn không còn sắc chất, là Vô Sắc giới.
Tầng thứ tư chỉ còn ý nghĩ, là Hữu Tưởng giới.
Tầng thứ năm chỉ còn ánh sáng, là Vô Tưởng giới.
Tầng thứ sáu linh hồn đạt tới toàn thiện, là Phi-Hữu-Tưởng-Phi-Vô-Tưởng-Giới, có lẽ là giới của các vị Giáo chủ: Phật, Chúa ..v.v..
Trên hết là Thượng Ðế, có thể gọi là tầng thứ bảy.
Ðó là lấy trí nhỏ mọn của tôi đoán phỏng như thế.
Sau hết, ông Ford nhắc lại rằng trong cõi trung-giới mà ông đương ở, không có thời gian: Chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi tồn tại luôn luôn, vô thủy vô chung. Chúng tôi có thể thấy một khoảng thời gian dài hơn người đời thấy rất nhiều, nhưng vẫn không thể biết được đâu là khởi đầu đâu là tận cùng. Chúng tôi chỉ hiểu biết rộng hơn người trần gian về mục tiêu của Thượng Ðế, nhưng chúng tôi chưa phải là hoàn toàn sáng suốt.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Thế giới bên kia (phần 2)


Chúng ta dang tay chào đón người mới đến với tất cả tình thương. Lúc đầu họ thường ngạc nhiên, nếu trước kia họ không học hỏi và tham thiền. Họ đói họ khác thì chúng tôi cho ăn cho uống tuy đó chỉ là tưởng tượng nhưng họ coi là thật vì vẫn tưởng là còn xác thân. Dần dần quen rồi, họ mới thấy rằng không cần ăn uống nữa. Chúng tôi để mặc họ muốn làm gì tùy ý, nhưng sẵn sàng giúp họ.
Người tự sát tưởng rằng hủy thân đi là hết, không biết rằng hồn vẫn còn, và như thế vấn-đề vẫn còn, lại thêm khó khăn hơn nữa. Trong cõi vô hình không giải quyết được vấn đề trần gian, phải đợi sang đời sau, biết đến bao giờ? Linh hồn rất đau khổ, tức giận cho mình đã phí mất một đời, khiến cho đời sau càng thêm nặng nợ và còn mang cái tội là đã hủy diệt sự sống mà Thượng Ðế đã ban cho, không ai được quyền lấy đi.
Kẻ sát nhân cũng rất đau khổ, không những đau khổ vì không thể trả lại đời sống cho nạn nhân của y nay cùng ở với y, mà còn đau khổ vì đã cản trở nạn nhân trả nghiệp quả riêng của họ. Hai hạng người nầy tự mình bị dày vò cực khổ vô cùng tro ng thời gian rất lâu chờ đợi để được sang đời khác đền bù tội lỗi.
Những người tuy không có tội nặng nhưng rất khó thích nghi, là những người không tin rằng có đời sống vô hình. Người vô tín-ngưỡng từ trước vẫn nghĩ rằng chết rồi là hết, nên không sẵn sàng để đón nhận hoàn cảnh bất ngờ, nay rất ngạc nhiên, tưởng rằng những người và cảnh vật trông thấy quanh y chỉ là ảo ảnh, do y tưởng tượng. Trong lúc sống không tử tế với ai, tự nghĩ không có bổn phận giúp đở ai. Nay y phải ở chung với đám người cũng ích kỷ như y, nhưng thô-lỗ cục-cằn mà y coi là hạ cấp, muốn thoát ra khỏi mà không được, rất là khổ sở.
Người còn tha thiết đến đời vật chất, đến những người thân, đến tiền của công việc còn bỏ lại, thì tâm trí loạn động nhiều, cần một thời gian dài và nhờ những linh hồn khác giúp đỡ, mới dần dần bỏ được sợi dây ràng buộc y với đời sống trên trần. Rồi y phải kiểm điểm những lầm lỗi trước và tìm cơ hội tái sinh để chuộc lại.
Trước khi lựa chọn nơi tái sinh, tâm linh phải tự kiểm điểm xem những món nợ nào cần trả trước và cần có những đức tính nào để tiến. Rồi phải tìm xem hoàn cảnh nào thích hợp với điều kiện của mình. Nếu y muốn học yêu thương, thì phải chọn nơi nào đức tính ấy không có nhiều. Thường y chọn cha mẹ ở những người xưa kia y đã biết hoặc có sự liên lạc về nhân quả. Rồi y chọn phái nam hay nữ để có thể tiến được nhiều hơn. Nếu nhiều linh hồn trình độ ngang nhau muốn đầu thai và cùng một nơi, thì hồn nào thích hợp hơn cả sẽ được lựa chọn, sự lựa chọn nầy có thể ví như máy tính thiên tạo tự động ghi nhận và ấn định tư cách của mỗi linh hồn.
Linh hồn được trúng tuyển bay lơ-lững gần cha mẹ, và khi ngày giờ đã đến, nhập vào bào thai hoặc đúng lúc hoặc ngay trước hay ngay sau khi lâm sản. Những linh hồn bị loại đi tìm nơi khác thích hợp với mình.
Trường hợp đứa trẻ mới sinh ra đã bị tật nguyền, là gì linh hồn đã chọn thân hình bất toàn ấy, thay vì một thân hình đầy đủ, để trả nợ mau chóng hơn. Những chướng ngại trong đời vật chất càng nhiều, thì linh hồn tiến hóa càng nhanh, nhanh hơn là những người có đủ tiện nghi trên đời. Càng tiến nhanh trên phương diện tâm linh, thì càng ít phải trở lại thân xác thịt.
Thường thường linh hồn trước kia thuộc phái nào, nam hay nữ thì lại thác sinh vào phái ấy. Nhưng cũng có khi lựa chọn phái khác để học hỏi, như một người tính vũ phu muốn sinh ra phái nữ để học tính dịu-dàng, một phụ nữ nhút-nhát sinh ra phái nam để học can đảm. Trường hợp một bà bị tê liệt nửa người và run rẩy, chúng tôi nhận thấy rằng trong một tiến thân, người ấy ở thành La-Mã là một tên lính dữ tợn ưa làm cho kẻ khác run sợ; Y đã thả thú dữ ra để cho nạn nhân sợ hãi trước khi bị cắn xé. Nay để đền tội, y phải sinh ra làm một người đàn bà yếu ớt và run rẩy.
Những linh hồn đã tiến hóa đến một trình độ tương đối cao, đều hộp nhau để học hỏi. Không có lể nghi như ở trần gian hộp ngày chúa nhật tán dương Thượng Ðế. Những linh hồn nầy trong đời vật chất đã tiến hóa, đã tham thiền để hòa đồng với Vũ -trụ. Họ đã không uổng phí thời giờ trên mặt đất, nay họ có thể tiến hóa nhanh chóng hơn. Nhờ bước tiến nhanh, những lần phải luân hồi sau nầy sẽ giảm bớt đi. Có ở trình độ nầy mới biết cái cảm giác thích thú và thỏa mãn được tiếp tục học hỏi về tâm linh khi bước sang cõi nầy. Những người không tin và nhạo báng rất đáng thương, họ không bao giờ biết cảm giác khoái lạc ấy.
Những linh hồn đã tiến hóa luôn luôn hoạt động. Một số trong chúng tôi học hỏi để tiếp tục tiến hóa, một số dạy những linh hồn mới đến, một số nữa tham thiền và cầu nguyện mong chuộc tội lỗi đã qua. Ðừng có điên rồ tưởng rằng chúng tôi lìa bỏ xác phàm bước sang thế giới tâm linh là chúng tôi gần thiên đường hơn và tự nhiên được hợp nhất với Thượng Ðế. Muốn đạt tới sự hợp nhất ấy, phải trải qua nhiều triệu triệu năm cố gắng đặc biệt theo luật Thượng Ðế và giúp đở người khác trên đường thăng tiến. Mỗi việc lành ta làm cho người khác mà không cầu báo là một lần làm thêm sáng tỏ và rút ngắn bớt con đường ấy.
Tâm bố thí không giới hạn, không mong báo đáp, là bật thang lên thành quả tâm linh. Ðừng cho tay trái biết việc làm của tay phải. Hãy bố thí trong thầm lặng, đừng nói cho ai biết, nên tìm cái vui thú trong việc làm hơn là trong lời nói. Nếu người đời đã khen, đã ca tụng rồi, thì còn mong gì Thượng Ðế khen thưởng nữa. Ta không mong ai ca ngợi khi ta tự giúp ta, tại sao ta lại mong ca ngợi khi ta giúp người khác, khi người ấy cũng là một phần chúng ta, một phần của Thượng Ðế!
Bên trong mỗi chúng ta đều có trí sáng suốt hiểu rõ chân lý. Chúng ta đều có khả năng tiến tới cái gọi là Thượng Chủng, nghĩa là giống thượng đẳng (super race). Xưa kia chúng ta là một phần của Thượng Chủng, nhưng về sau lòng tham lam, ích kỷ, thù hận và nhiều ý nghĩ tồi tệ khác dần dần thâm nhập vào những người mang thân xác thịt.
Tiềm thức chúng ta chứa chất tất cả mọi điều hiểu biết mà chúng ta thu thập từ khi bắt đầu được cấu tạo. Nó là cái kho tài liệu vĩ đại nhất chưa bao giờ thấy, nhưng trong khi còn mang thân xác thịt thì không thể mở kho ấy bằng cách thường. Qua những giấc mơ và lúc tham thiền, hoặc nhờ thôi miên đúng phép, ta cũng chỉ có thể mở được một phần mà thôi. Nhưng ở đây, trong cõi vô hình, tất cả kho ấy trong đời quá khứ luôn luôn bày ra trước mắt, và nếu tâm linh ta có khả năng hơn, ta có thể thấy được các đời trước nữa.
Có rất nhiều trường dạy tiến hóa tùy theo trình độ của linh hồn. Chúng ta được tạo nên do một phần của Thượng Ðế, có đủ tính chất của Thượng Ðế, vậy muốn hoàn tất cuộc hành trình của chúng ta và trở về với Thượng Ðế, thì phải được thấm nhuần triết lý của Vũ-trụ và hiểu biết luật lệ của Vũ-trụ để được hòa đồng với Tạo-Hóa là cha chúng ta.
Ông Ford nói đến hai phần tự tin là mình hoàn toàn, đã đạt tới đức hạnh bực Thánh.
Một người cho rằng mình đã sẵn-sàng để được vào hàng Thánh, và mong được Thánh Gabried dẫn đến ngay vàng của Thượng Ðế ngay khi bước sang cõi vô hình. Y khoe với mọi người rằng y không hề làm gì lầm lỗi, không bao giờ trộm cắp, lừa dối, tà dâm. Y làm việc trong nhà thờ và dự vào nhiều việc từ thiện, y chắc rằng đời sống nầy là đời cuối cùng trước khi về với Thượng Ðế ở trên trời. Tâm y nhẹ nhàng khi bước qua bên nầy, và tỉnh giậy thấy quanh mình phong cảnh ngoạn mục. Y thấy một đám người áo trắng đi đến tưởng rằng họ đến đón y, nhưng họ đi thẳng. Lại thấy lũ trẻ chơi đùa, y gọi chúng hỏi thánh Gabried ở đâu, chúng nói chúng chẳng gặp thánh thần nào cả. Y tìm đến một ông già râu bạc ngồi trong lều, y hỏi đường đi tìm thánh Gabried, Ông già nói: "con đường nằm ở bên trong"
Y nghĩ là một đường hầm, nhưng tìm không thấy, y lại hỏi: "tại sao không ai chỉ đường cho tôi đến Thượng Ðế? Tôi có việc cần gặp Thượng Ðế, Thượng Ðế ở đâu?".
Ông già lại nói: "hãy nhìn vào bên trong"
Y nhìn quanh trong lều chẳng thấy gì, bực mình nói: "đừng có đùa bỡn, tôi cần đến Thiên đình."
Ông già nói rõ: "Tôi biết , nên tôi đã bảo anh hãy nhìn vào bên trong anh. Ai nấy đều phải tự xét đoán mình trước khi gặp Ðức Sáng Tạo.
- Nhưng tôi không làm gì lầm lỗi cả, đời tôi trong sạch nay tôi sẵn sàng gặp Thượng Ðế.
- Còn tánh tự phụ của anh thì sao? anh lấy làm chắc rằng anh không lầm lỗi?
- Tôi chắc, vì cả đời tôi không làm gì trái cả. Tôi đã cố gắng làm phận sự, và nay tôi chờ được khen thưởng trên trời.
Bấy giờ ông già nắm tay y nói: "con chưa thấy sao con? Con đã nghĩ đến linh hồn con nhiều quá, mà không nghĩ đến làm bớt đau khổ cho những người không bằng con. Con đã bao giờ hy sinh miếng bánh của con cho kẻ ăn mày đói ngồi ở đầu đường chưa? Con có lúc nào bớt thì giờ để nghe những nỗi khó khăn của người dưới quyền con không? Con có bao giờ nghĩ đến làm cho tâm hồn vợ con được thoải mái không? Nay vợ con được sung sướng hơn khi con còn sống, vì không phải bị con bắt phải kính trọng con như một ông thánh. Hãy nhìn xem vợ con đang làm gì."
Lúc ấy y nhìn thấy nhà y ở California. Một người đàn ông ngồi ruỗi dài trên ghế của y. Vợ y trông khỏe mạnh vui vẻ. Người kia nói: "Chúng ta sẽ được hoàn toàn hạnh phúc.
- Phải sau khi mãn tang.
- Sau lâu thế.
- Sợ người ta chê cười. Còn John thì chắc y chẳng để ý gì đến dưới nầy nữa, chắc y đương ở trên trời và tìm đến Thượng Ðế. Thật là khó kinh khủng mà sống với một người tự cho mình là ông thánh."
Bấy giờ y mới nhìn vào nội tâm y và nhận thấy rằng y đã lo tạo cho y trở thành ông thánh nhiều hơn là phụng sự Thượng Ðế và những người chung quanh. Tệ hại hơn nữa là y đã được nhiều lời khen ngợi ở thế gian về việc làm của y, nên không còn gì để đem theo tâm linh nữa. Nay y hiểu rằng chỉ có bố thí và giúp đỡ trong sự yên lặng vô danh mới được thưởng công trên trời, y đau khổ giận cho y rằng đời gương mẫu của y đã không giúp ích cho linh hồn y như đã giúp cho đời vật chất của y. Chi mà khôn g có tình thương, tình thương không vị kỹ, thì những việc làm của y trong xã hội được khen ngợi nhiều, chỉ là những ngày trống rỗng. Nay y đã hiểu bí mật của sự cứu rỗi là bố thí không vị kỷ, đặt quyền lợi người khác trước quyền lợi của mình, yêu thương v à giúp đở lẫn nhau.
Một người đàn bà cũng tin rằng mình có đủ đức tính của một vị thánh và mong đợi được đưa thẳng đến gặp Thượng Ðế. Thị thức giậy ở bên nầy và nhìn quanh tìm cửa bằng ngọc để đi vào tìm thánh Peter. Thị đến một cửa, không đẹp như thị tưởng, đi vào thấy vườn hoa đẹp nhưng không để ý, chỉ chăm chăm đi gặp Thượng Ðế. Trên đường thấy có nhiều người cùng đi, thị vượt lên trước họ đến một nơi cao, chắc rằng trên đó Thượng Ðế đương ngồi chờ thị. Thấy một người cũng leo lên gần thị, nhận ra bà lão ăn mày trước kia vẫn gặp ở đầu đường, thị tỏ ý khinh bỉ, chỗ nầy đâu phải là nơi lão được đến! Thấy một người trẻ tuổi mặt sáng, chắc là một vị thiên thần, thị xin được đưa đến trước Thượng-Ðế. Vị nầy nói: "Nhưng thưa bà, tất cả chúng ta là Tượng-Ðế" Thị bực mình, vì nói như thế là gồm cả lão ăn mày bên cạnh thị. Thị nói: "Ðừng có đùa cợt, ông hãy dẫn tôi đến gặp Thượng Ðế".
Bấy giờ đám đông mà thị đã vượt lên trước đã đến nơi vây quanh thị, thị bực rằng sẽ không được đứng hàng đầu nữa. Người trẻ tuổi nói với tất cả đám đông:
"Quý vị hãy nghe đây, Thượng Ðế ở khắp nơi. Thượng-Ðế là tình thương, quý vị thương yêu nhau và giúp đở nhau là có Thượng-Ðế trong đó".
Thị bực lắm, hỏi rằng: "Thiên Ðình ở đâu?
- Thiên Ðình ở ngay nơi bà đứng."
Nhưng thị nhìn quanh, chẳng thấy Thiên Ðình đâu cả. Dần dần thị mới hiểu ý, Thiên Ðình ở ngay nơi thị, quan tòa là thị. Bấy giờ thị nhìn vào nội tâm, mới thấy rõ sự thật kinh khủng. Trong khi cố gắng một đời sống trong sạch không tội lỗi, thị chỉ nghĩ đến riêng mình, không bao giờ có một lời an ủi cho người kém mình, mà lại còn muốn tránh xa sợ họ làm nhơ bẩn cái áo trắng trong của thị. Ðâu là tình thương người khác? Thượng-Ðế không cần nói, thị cảm thấy câu trả lời trong tâm thị, thị biết cái tâm của thị hơn ai hết, chính thị là quan tòa của thị.
Những người đã chết không phải là bay lơ lửng trên không trung. Họ ở ngay trên mặt đất, không ở đâu khác, vì chỉ có một Vũ-trụ duy nhất. Họ không ngủ trên giường ta, không ngồi trên ghế ta, nhưng họ hoạt động ngay giữa chúng ta. Họ cũng đi cùng đường nhưng không bị cản trở về vật chất, không phải đi vòng quanh những chướng ngại như nhà cửa hay tảng đá. Tuy họ cùng ở với ta, nhưng ta không thấy họ mà họ vẫn thấy ta và biết được cả ý nghĩ của ta